Đăng kí nhận thông báo
Thống kê
Đang Online: 13
Truy cập hôm nay: 73672
Tổng số truy cập: 3323046
 
Yahoo Messenger
donhuminhkhoa
 
Đặt quảng cáo

 

THỬ TÌM LẠI DÁNG XƯA CỦA LOẠI MŨ MIỆN BẰNG VÀNG THUỘC NGHỆ THUẬT CHAMPA - Lê Xuân Diệm

2012-06-13 11:56:30

Bài viết này có sử dụng tài liệu do Bảo tàng Lịch sử VN – TP.HCM cung cấp. Chân thành cám ơn. Theo tài liệu hiện biết thì đá có khoảng bốn sưu tập hoàn chỉnh hoặc không hoàn chỉnh liên quan đến loại mũ miện bằng vàng thuộc nghệ thuật Champa được phát hiện. Đó là:

 - Sưu tập được phát hiện vào khoảng năm 1904 trong phế tích một ngôi đền cổ (ký hiệu CT) trong khu “Thánh địa Mỹ Sơn” (Duy Xuyên – Quảng Nam). Nó gồm một bộ đồ trang sức bằng vàng khá hoàn chỉnh; trong đó, có một chiếc mũ miện nhiều tầng (kirita – mukuta) khá nguyên vẹn với năm miếng vàng hình bông hoa gắn xung quanh, một viên hồng ngọc gắn trên đỉnh, một miếng vàng che sau gáy, hai miếng khác phía sau tai và một miếng lớn dựng phía sau đầu.
    - Sưu tập do Vũ Kim Lộc thu thập vào khoảng nửa đầu thập niên 90 thế kỷ XX, nay được lưu giữ tại Bảo tàng các dân tộc Việt Nam (Hà Nội). Nó gồm nhiều loại đồ trang sức cổ Champa. Trong đó liên quan đến loại mũ miện gồm khoảng 45 miếng vàng lớn nhỏ có hình cánh hoa. Một miếng vàng khá lớn hình bầu dục được dập nổi thành những đường thẳng tỏa ra chung quanh như hình nan hoa, lại được cẩn 5 viên đá quý (1 ở trung tâm, 4 ở 4 hướng), hạt chính giữa có chạm hình nhân thần và hình con ngựa. Ngoài ra, còn có một bình nhỏ hình bông hoa bằng vàng với một hạt ngọc bích được cột treo lủng lẳng trên đầu bông hoa.
    - Sưu tập do Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ sưu tầm từ nửa sau thập niên 90 được lưu giữ tại Bảo tàng cho đến nay. Nó gồm 9 món đồ trang sức liên quan đến một chiếc mũ miện bằng vàng. Trong đó có 7 miếng hình cánh hoa lớn nhỏ, một miếng hình bông hoa tròn trịa và một món có hình một bông sen với một viên đá quý (đá màu) được cẩn ở đầu bông sen.
    - Sưu tập hiện do Bảo tàng Lịch sử VN – TP. HCM lưu giữ. Đây là một sưu tập khá hoàn chỉnh và một chiếc mũ miện bằng vàng, gồm 23 miếng vàng có hình cánh hoa lớn nhỏ, mỗi miếng có cẩn từ 1 đến  4 viên đá quý, trong đó có 3 viên được chạm hình con bò u - vầng trăng khuyết, hình nữ thần Laksmi và hình chữ Sri. Ngoài ra có 2 miếng vàng nhỏ được cắt dập nối thành 8 đường thẳng tỏa ra chung quanh như hình nan hoa (bên trong) đường nổi quanh rìa thành hình bầu dục (bên ngoài) và một món đồ vàng có hình một bông sen có cẩn một viên đá quý (đã mất) ở đầu bông sen. Cuối cùng, là 1 miếng vàng dẹt, dài có thể là vành vương miện.
    Trong 4 sưu tập kể trên thì sưu tập đầu đã từng được trưng bày tại Hội chợ ở Mac – xây (Pháp) vào năm 1928, được giới thiệu sơ lược trong một vài công trình khảo cứu chung về “Vương quốc Champa”, về “Nghệ thuật Champa”. Từ đấy về sau, sưu tập cổ vật vàng quý hiếm này dường như đã bị thất lạc và giới khoa học cũng không bàn luận thêm về nó. Ngày nay, chỉ có thể biết đến nó từ một, hai bức ảnh chụp “tài tử” không mấy rõ ràng cùng với vài dòng chữ minh họa sơ sài, ngắn ngủi Bảo tàng Lịch sử VN – TP. HCM hiện lưu giữ một chiếc mũ miện bằng bạc (ký hiệu cũ D22,3), xuất xứ không xác định, theo J. Boissehèr thì rất giống với bộ đồ trang sức bằng vàng ở Mỹ Sơn C7, (J. Boissehèr 1966).
    Ba sưu tập sau, như đã nói hiện nay được lưu giữ bảo quản tại Bảo tàng lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh), được nhìn nhận là những sưu tập cổ vật vàng quý hiếm, là “bảo vật” quốc gia. Chính là nguồn tư liệu hiện vật thật không thể thiếu trong việc “tìm lại dáng xưa của loại mũ miện bằng vàng thuộc nghệ thuật Champa”. Mỗi sưu tập, trên thực tế có sự khác biệt nhất định. Dễ thấy nhất là số lượng có thể thấy sự chênh lệch (45, 2, 9), có nghĩa sự nguyên vẹn hoặc tính hoàn chỉnh có khác nhau; thêm nữa là hình dạng cụ thể của các miếng vàng, hoa văn dập nổi trên hình các bông sen… còn có nhiều khác biệt cụ thể. Tuy nhiên, nếu quan sát chung thì có thể ghi nhận giữa chúng có không ít biểu hiện tương đồng. Trước hết, là cả 3 sưu tập đều có một món trang sức có tính tiêu biểu rất thống nhất. Đó là hình một bông sen dạng lập thể có cẩn một viên đá quý trên đầu. Nó có thể được chụp lên búi tóc trên đỉnh đầu hoặc được gắn trên đỉnh mũ miện. Tiếp đến là nhiều miếng vàng có hình cánh hoa với các cỡ lớn bé, rộng hẹp khác nhau trong mỗi sưu tập; trong đó ở sưu tập 2 và 3 thuộc Bảo tàng các dân tộc VN và Bảo tàng Lịch sử VN – TP. HCM, trong đó hàng chục miếng vàng có hình cánh hoa, có thể phân biệt chí ít có 3 cỡ lớn nhỏ. Mỗi cỡ thường có hình dáng, có số lượng miếng vàng đủ để tạo thành những vành cánh hoa lá khá giống nhau. Mỗi cỡ có số lượng miếng vàng đủ để tạo thành những vành cánh hoa theo các cỡ lớn, vừa và nhỏ.
    Sự giống nhau giữa ba sưu tập còn được ghi nhận ở sự hiện diện trên mặt sau những miếng vàng hình cánh hoa dài có gắn (hàn chấm) hai khoen (hoặc một khoen) nằm ngang bằng vàng ở khoảng cách khá bằng nhau (theo chiều thẳng đứng). Những cặp khoen trôn những lá vàng xem ra có thể điểm để “cột” vào các vành tùy theo cỡ hình cánh hoa… tạo thành các vành hoa được trang sức “2 hoặc 3 tầng” trên mũ miện.
    Với những biểu hiện tương đồng như nói trên có thể suy đoán bộ đồ trang sức trong 3 (hoặc chính xác là 2) thuộc cùng một loại hình, thậm chí có cùng truyền thống kỹ thuật phong cách nghệ thuật. Đó là kiểu mũ miện được trang sức bằng những vành cánh hoa thành 3 tầng bao quanh; trên đỉnh là một chóp mũ được trang sức bằng một hình bông sen đứng thẳng (hoặc chụp vào búi tóc hoặc gắn trên đỉnh mũ). Riêng sưu tập 4 có thêm một vành vương miện vòng quanh đầu, dưới chân mái tóc.
    Kiểu trang sức đầu tóc này có xuất xứ ban đầu và khá phổ biến trong nghệ thuật trang sức Hindu giáo, Phật giáo ở Ấn Độ thời cổ, được gọi bằng cái tên chung là Mukuta (Ấn Độ), hoặc Mokot (Khmer), Mongkut (Thái Lan), Crown (Anh), Bảo quan tức mũ quý (Trung Quốc). Kiểu mũ này ở Ấn Độ, thoạt đầu được hình dung là kiểu tết tóc thành búi cột cao trên đỉnh đầu và những nhà tu hành theo hệ phái khổ hạnh. Ở ĐNÁ sử dụng thuật ngữ mukuta để chỉ loại mũ miện ở một số vị thần (Indra, Vishnu – Narayana) trong đạo Hindu với vài vị thần trong đạo Hindu Louis Fédéric “Trationnaire de la obilisation indienne” aylesburry. NXB Robert Laffont. 1991
. Hoặc là để chỉ một loại mũ miện hình chóp cổ điển Ấn Độ Phạm Thúy Hợp “Điêu khắc đá Champa tại BTLSVN – TP. HCM” xuất bản BTLSVN – TP. HCM, 2003.. Thực ra, mukata là tên gọi có tính chất bao quát hoặc một khái niệm chung để chỉ ra đặc trưng nổi bật, cốt lõi của kiểu trang sức đầu tóc có biểu trưng là một búi tóc hoặc tượng trưng cho hình búi tóc trên đỉnh đầu như tu sĩ, những vị thần thuộc đạo Hindu và đạo Phật.
    Trên thực tế xã hội và từ các hình tượng tôn giáo Hindu, Phật thì kiểu trang sức mukuta có nhiều dạng khác nhau, có các tên gọi khác nhau.
    Dạng Jatu – mukuta là dạng kết tóc thành nhiều búi, rồi túm lại thành búi tóc cao trên đỉnh. Dạng này hầu như không sử sụng đồ vàng bạc để trang sức.
    Dạng kirita – mukuta được coi là dạng cao quý bằng mũ miện, có hình ống hẹp, ở phía trên, rộng dần về phía dưới, được trang sức nhiều đồ trang sức bằng vàng, bạc.
    Dạng karanda – mukuta có người coi là một dạng jata – mukuta (Phạm Thúy Hợp 2003), thực ra, nó thuộc dạng trung gian giữa jata – mukuta và kirita – mukuta. Đồ vàng bạc dùng trang sức trên mũ miện dạng này không nhiều và phức tạp như dạng kirita – mukuta.
    Ở Ấn Độ thời cổ, có hai dạng karanda – mukuta với kirita – mukuta đều khá thông dụng trong đạo Hindu và cả đạo Phật. Trong đạo Hindu thì nhận thần Vishnu, Siva, Parvah, Durga, Surya, Krishna…. Với kể cả thần động vật như Ganesa, Skanda…. Đều sử dụng cả hai dạng trang sức đầu (tức mũ miện nói trên).
    Trong nghệ thuật Champa, theo H. Pasvaentrer và J. Boissehèr, thì ngoài kiểu trang sức chung mukuta thì thấy có hai dạng là jata- mukuta và kirita – mukuta. Trong đó, dạng kirita – mukuta khá phổ biến. Theo tài liệu hiểu biết thì ở một số tượng tròn, quý như trên của bức phù điêu bộ thờ của nhiều chi tiết kiến trúc cổ, từ Quảng Trị đến Đồng Nai, và cả đất Tây Nguyên (mạn Đông) đều thấy dạng trang sức đầu kirita – mukuta và về niên đại kéo dài từ TK VII – VIII đến TK XIV – XV. Dạng mũ miện này (kirita – mukuta) không chỉ thấy trên đầu các vị thần như Vishnu, Siva, Krishna – Givardhama, Brahma (?), Dvarapala, Dharmapala,… cũng thấy ở các hình những nhà tu theo hệ phái khổ hạnh, những người cầu nguyện, vũ nữ… mà còn thấy trên các tượng thần động vật (hóa thân của thần) như Garuda, Ganesa…
    Nếu so sánh với Ấn Độ, địa bàn xuất xứ và dạng trang sức kirita – mukuta thì thấy ở Champa dạng trang sức này được sử dụng rộng rãi hơn vì không gian, sự phổ cập hơn về đối tượng sử dụng và được truyền lâu dài về sau. Hay nói cách khác là tính xã hội hóa của dạng trang sức kirita – mukuta ở Champa rõ nét hơn. Có thể coi đó là nét đặc thù của sự phát triển nghệ thuật trang sức mũ miện của Champa. Một biểu hiện khác về mặt hình dáng mũ miện…, theo tài liệu hiện biết thì ở Champa, có 2 loại hình được coi thuộc dạng kirita – mukuta. Một loại có hình ống trụ (mitre), trên hẹp, dưới rộng; loại này ít phổ biến và thường thấy trên một số lượng thần cấp cao (Vishnu, Siva…). Loại thứ hai có hình chóp thon cao, đỉnh nhọn hoặc hơi tù, loại này phổ biến hơn, được sử dụng rộng rãi hơn từ các vị thần tối cao (Vishnu, Siva, Krishna, Rama…), các vị thần thứ cấp (Dharmapala, Dvarapala…) đến các thần động vật (Garuda, Ganesa…), và đến cả lớp bình dân (tu sĩ, người cầu nguyện, vũ nữ…). Có thể nói loại vương miện hình chóp dạng kirita – mukuta được thấy chung nhất trong đời sống tôn giáo, trong nghệ thuật trang sức tượng Champa. Và đúng là một biểu hiện độc đáo của nghệ thuật này.
    Một biểu hiện khác cũng rất nổi bật của nghệ thuật trang sức mũ miện ở Champa là ở chỗ không quá phức tạp, cầu kỳ, không quá cách điệu theo hướng trừu tượng như trong trang sức mũ miện dạng kirita – mukuta ở Ấn Độ. Ở đỉnh (Champa) trên mũ miện hình chóp – như đã nói – hầu như thông dụng lối trang sức 2 – 3 vành hoa thành loại mũ miện nhiều tầng; thậm chí người ta rất ít sử dụng “vương miện (diadème) để trang sức phía dưới mũ (trasche), dạng trang sức kiểu bới tóc trên đỉnh đầu hầu như cũng hiếm thấy.
    Nhìn chung dạng mũ miện kirita – mukuta ở Champa đã được “cách tân” nhiều theo hướng “giản lược hóa”, “hiện thực hóa” (vô nghệ thuật), phổ cập hóa (về xã hội). Loại mũ miện “hình chóp” với nhiều tầng trang trí hoa văn hoa lá, là loại trang sức đầu phổ biến và tiêu biểu cho nghệ thuật Champa. Đến đây, nếu đối chiếu loại mũ miện bằng vàng trong 3 sưu tập cổ vật vàng đã giới thiệu ở phần trên có thể thấy chung khá tương đồng với loại mũ miện hình chóp trên các tượng điêu khắc đá trên đây. Đặc biệt, với số 3 vành hình cánh hoa có cỡ lớn hay nhỏ rất tương hợp với ba vành hoa trên 3 tầng mũ miện bằng vàng. Trên thực tế cùng thuộc loại hình mũ miện “hình chóp” – một sản phẩm độc đáo của nghệ thuật Champa. Cái khác biệt của nó là được làm bằng nguyên liệu hoàng kim. Bằng các kỹ thuật của nghề thủ công kim hoàn và với thủ pháp nghệ thuật chạm khắc riêng của nó. Ngoài ra, một khác biệt nổi bật là trên mũ miện bằng vàng hầu hết thấy có trang sức bông sen bằng vàng trên đỉnh đầu hoặc đỉnh mũ (gọi là chóp mũ). Đấy là nét đặc thù của loại mũ miện bằng vàng hình chóp dạng kirita – mukuta ở Champa nó thể hiện phần nào truyền thống ban đầu của kiểu trang sức đầu mukuta đã dùng hình bông sen (tượng trưng cho nước và sáng tạo) thay cho hình búi tóc.
    Như vậy là hình dáng xưa của loại mũ miện bằng vàng của 3 sưu tập cổ vật vàng nói trên, đặc biệt là ở sưu tập 4 (BTLSVN – TP. HCM bảo quản) đã bước đầu được soi sáng trên đường nét cơ bản. Tuy nhiên, để tìm lại đích thực dáng xưa về kích thước (độ cao, độ rộng), vị trí gắn kết các vành hoa, cách sắp xếp của miếng vàng hình cánh hoa, những miếng vàng có khắc hình chạm chữ, phương thức lắp ráp các thành phần rời (vương miện, vành hoa, bông hoa trên mũ miện… cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, phân tích từng mảng tìm ra những căn cứ, những điểm tương thích giữa những cá thể của loại mũ miện hình chóp thể hiện trên chất liệu đá với loại mũ miện bằng vàng hiện hữu…
    Trước hết là cần triển khai và đo đạc tất cả các miếng vàng, có thể vàng của sưu tập mũ miện (BTLSVN – TP. HCM) và các chiếc mũ miện có dạng tương đồng trên điêu khắc đá Champa. Từ đó, xác định được chỉ số tỷ lệ có tính ổn định tương đối giữa chiều cao, chiều ngang của mũ; khoảng cách giữa các vành hoa trên mũ miện, giữa vành hoa chóp mũ. Những chỉ số tỷ lệ đó sẽ là căn cứ tham khảo không thể thiếu khi phục dựng hình dáng xác thực của mũ miện bằng vàng hiện hữu Trên một số tượng người cầu nguyện đội mũ miện hình chóp thuộc nghệ thuật Champa thì chỉ số tỷ lệ đó là 3/2 = cao/ngang
.
    Tiếp đến là việc xác định vị trí các miếng vàng có hình cánh hoa trên mỗi vành đai. Theo tài liệu hiện biết, hầu như không có một hình tượng điêu khắc mũ miện nào bằng đá, đồng có thể tham chiếu tượng này chính xác khi định vị cho các miếng vàng hình cánh hoa. Chúng ta chỉ có thể lần tìm được một vài vị trí có tính quy ước và với hình ảnh trang trí tiêu biểu thấy gần hơn với những biểu tượng tôn giáo (thần linh hoặc xã hội). Vì như những miếng vàng có chạm hình bò u trăng khuyết, hình nữ thần Laksmi, hình chữ Sri hoặc những miếng vàng hình bầu dục có dập nổi hình nan hoa trong sưu tập 4 hẳn phải ở vị trí đặc biệt trên vành hoa và nói chung trên mũ miện. Riêng những bông sen vàng thì vị trí của chúng ở trên đỉnh đầu hoặc đỉnh mũ là quá rõ ràng.
    Sau cùng là khâu lắp ráp bằng cách thức nào cũng cần xác định với căn cứ khoa học cụ thể: Những dữ liệu về mặt này, trên hình tượng mũ miện ở các sản phẩm đá, đồng hầu như không thể tìm được. Chúng ta chỉ có thể dựa vào những dấu vết liên quan đến các lớp ráp đến điểm kết nối còn lưu lại trên phần lớn có thể hợp thành mũ miện (miếng vàng hình lá, hình hoa, vật hình bông sen, vành vương miện).
    Những dấu vết đó hiện lên rõ ràng ở mặt sau những miếng vàng. Trước hết đó là những chiếc khoen làm bằng miếng vàng hẹp, dài, mỏng gắn hàn trực tiếp lên bề mặt miếng vàng. Trong sưu tập 4 (BTLSVN – TP. HCM) trên 8 miếng vàng cỡ lớn thì 3 miếng có 1 khoen, 4 miếng có 2 khoen và 1 miếng có 2 khoen (2 bên khoen dưới có thêm 2 khoen nhỏ); trên 7 miếng vàng trong số 9 miếng cỡ vừa thì 1 miếng có 1 khoen, 5 miếng có 2 khoen, 1 miếng có 2 khoen (khoen dưới có thêm 2 khoen nhỏ ở 2 bên), trên 6 miếng trong số 8 miếng cỡ nhỏ thì 1 miếng có 1 khoen, 5 miếng có hai khoen.
    Ngoài các khoen, trên 2 miếng vàng hình bầu dục với hình ngôi sao 8 cạnh ở bên trong, không thấy gắn khoen, nhưng lại có gần hai cái mấu (hoặc móc) nhỏ, (trên, dưới) ở mỗi miếng lớn có hai miếng hình bầu dục thuộc cỡ nhỏ, không thấy khoen (hoặc đầu gần khoen) cũng không có mấu nhỏ nhưng thấy có những lỗ xuyên thủng ở ven rìa, mỗi miếng có đến 4 cặp lỗ.
    Dấu vết lỗ xuyên còn thấy trên một số miếng vàng hình lá cỡ lớn, vừa, trong đó cỡ lớn có 1 miếng được xuyên 3 lỗ, 2 miếng có 2 lỗ; cỡ vừa chỉ có 1 miếng xuyên 1 lỗ. Trên vành vương miện còn có một số lỗ xuyên thủng ở vai vị trí như phía trên, dưới cẩn nổi hạt đá quý khắc chữ Sri (4 lỗ thành 2 cặp), trên một đầu và vành vương miện (1 lỗ), trên thân vành ở hai lỗ được xuyên thủng thành 1 cụm 3 lỗ hoặc 1 lỗ) Một số lỗ hoặc cụm lỗ trên vành vương miện này có thể đá được xuyên thủng để ráp nối sau khi vành bị dính gãy thành các đoạn rời.
    Những chiếc khoen, những cái mấu cong, những lỗ xuyên thủng kể trên hẳn đã liên quan đến việc lắp ráp, kết nối các cá thể với nhau hợp thành chiếc vương miện. Trong đó, những khoen vàng hẳn có vai trò quan trọng. Nhìn chung, những chiếc khoen có những biểu hiện cụ thể khá thống nhất. Chúng đều được gắn hàn theo chiều nằm ngang 1 đầu được gắn trên đường trục giữa theo chiều thẳng đứng trên các miếng vàng. Khoảng cách giữa chúng (2 khoen hoặc 3 khoen) thường dao động quanh khoảng 2,5cm (từ khoen trên đến khoen dưới)… Từ những biểu hiện thống nhất đó có thể suy đoán: những khoen trên miếng vàng dựng để lồng các thanh kim loại vừa ổn định vị trí cho các miếng vàng hình lá, hình hoa vừa có tác động kìm khung cứng dựng đứng cho mũ miện, lại gắn kết các vành đai ngang vành mũ. Nếu theo số liệu của các miếng vàng và theo kích thước của chúng (3 cỡ) thì chiếc mũ miện về sưu tập 4 (BTLSVN – TP. HCM) hẳn phải có số tối thiểu là 4 và tối đa là có 8 thanh dựng đứng, 3 thành làm vành đai ngang. Ba vành đai này liên kết các miếng vàng theo 3 cỡ khác nhau, hình thành nên 3 tầng cánh hoa trang trí trên chiếc mũ miện.
    Những cái mấu nhỏ trên 2 miếng hình bầu dục có ngôi sao 8 cánh hẳn được móc chặt vào vành đai ngang (tức tầng giữa). Khoảng cách 2 mấu (theo chiều trên dưới) còn vào khoảng 2,5cm (tương ứng khoảng cách giữa 2 khoen trên dưới ở các miếng vàng hình cánh hoa).
    Những chiếc lỗ xuyên thủng xem ra có phần không theo quy định thống nhất. Song nhìn chung, chúng đều có tác dụng xâu sợi dây (vàng?) nhỏ để nhằm giữ chặt các miếng vàng hình hoa vào các vành đai ngang trên mũ miện.
    Trên đây, chúng ta đã có thể hình dung được những nét cơ bản trong việc lắp ráp các thành phần của mũ miện để tạo nên dáng hình bộ khung vành đai ngang của nó. Tuy nhiên, một phần việc cũng không kém phần quan trọng đó là vị trí sắp xếp của các miếng vàng hình hoa thuộc cả 3 cỡ lớn, vừa, nhỏ. Có một số miếng mang đặc trưng riêng của nó. Trong đó, những miếng có chạm khắc hình bò u vầng trăng khuyết, hình Laksmi, hình chữ Sri trên mặt hạt đá quý có ý nghĩa linh thiêng gắn liền với đạo Hindu. Những hình tượng khắc đó tượng trưng cho những vị thần hàng đầu của đạo Hindu. Theo đó, những miếng vàng đó khắc hình các vị thần hẳn phải được gần ở vị trí nổi bật nhất, mà theo quy định chung trong nghệ thuật trang sức đầu ở tôn giáo Hindu, Phật là hai mặt trước, chính giữa (hoặc theo trục đứng, chính giữa) của mũ miện. Như vậy, hai miếng vàng cỡ lớn hình lá (hoặc cành hoa) có chạm hình bò u vầng trăng khuyết (ký hiệu 04d) và miếng vàng cỡ vừa hình bầu dục, bên trong dập thành hình hoa 8 cánh có chạm hình nữ thần Laskmi (ký hiệu 05t) hẳn có vị trí nằm trên trục chính giữa phía trước của mũ miện. Trên vành vương miện thì mặt có cẩn hạt đá quý có chạm hình chữ Sri (có nghĩa là tối cao) hẳn phải là mặt trước của vành vương miện… Cũng từ đây, có thể suy ra, mặt sau của vương miện là mặt có cẩn hạt đá quý màu xanh lục (ngọc bích), chung quanh có hình nổi hoa văn, hình bông hoa nhô cao. Trên vành trang sức ở giữa mũ miện thì phía sau của nó cũng là miếng vàng có hình bầu dục bên trong có dập nổi hình hoa tám cánh và ở giữa được cẩn một hạt đá quý màu trắng mờ (bạch ngọc). Vành trang sức dưới cùng thì phía sau nó hẳn gắn miếng vàng hình tam giác bên trong dập nổi hình bông hoa, cánh xòe lên cao, ở giữa cẩn một hạt đá quý (ký hiệu 3d). Cũng tại vành trang sức này (vành dưới). Nếu dựa theo hình dáng và số lượng hạt đá quý được cẩn trên các miếng vàng hình hoa lá có thể đưa ra trình tự sắp xếp như sau: chính giữa phía trước là miếng vàng có hình bò u  vầng trăng khuyết (ký hiệu 04d) thì bên trái lần lượt là miếng vàng có ký hiệu 2d, 1d, 8d; bên phải lần lượt là 7d, 5d và 6d; chính giữa phía sau là 3d. Vành giữa, tức tầng trang trí ở giữa không có hình tượng thần linh trong miếng vàng nhưng có hai miếng hình bầu dục có hình hoa 8 cánh bên trong. Đấy là hình hoa khác biệt với hình hoa là trên các miếng vàng khác… Vị trí của chúng hẳn được gắn vào 2 bên trái, phải của vành đai giữa, đối xứng với nhau (ký hiệu 6g và 9g). Các miếng vàng khác có hình hoa lá, dựa theo hình dáng và số lượng hạt đá quý được cẩn thì có trình tự sắp xếp như sau: hai miếng trước hết có ký hiệu 5g, 1g; tiếp đến là hai miếng có ký hiệu 2g và 8g; phía sau hai miếng hình bầu dục là hai miếng có ký hiệu 4g và 7g (một bên trái, một bên phải và miếng có ký hiệu 03g được gắn ở chính giữa mặt sau vành đai. Vành đai trên hết, như đã nói có hai miếng vàng hình bầu dục, bên trong dập hình hoa 8 cánh: một miếng ở chính giữa cẩn viên đá quý có chạm hình nữ thần Laskmi. Miếng này có ký hiệu 05t hẳn được gắn ở chính giữa mặt trước. Miếng thứ hai có ký hiệu 06t, ở giữa cẩn một viên đá quý màu trắng mờ hẳn được gắn ở chính giữa mặt sau của vành đai, đối xứng với miếng nói trên (ký hiệu 05t). Trên vành đai này còn có 6 miếng vàng hình hoa khác, nếu dựa theo hình dáng và màu hạt đá quý thì có thể sắp xếp theo trình tự về bên trái, lần lượt, về bên trái miếng vàng ký hiệu 02t lần lượt là các miếng có ký hiệu 04t, 08t và 01t, về bên phải lần lượt là các miếng có ký hiệu 07t, 02t và 03t; phía sau, chính giữa, như đã nói là miếng vàng hình bầu dục có ký hiệu 06t.
    Trình tự sắp xếp như miếng vàng hình hoa lá, trên 3 vành đai trang trí trên mũ miện như kể trên. Rõ ràng là khá hợp lý nó thể hiện đầy đủ tính cân đối, sự hài hòa từ kích thước, hình dáng đến số lượng của hạt đá quý được cẩn trên mỗi miếng vàng  Chỉ có hai trường hợp số lượng hạt đá quý có sai biệt một viên. Đó là ở miếng vàng có ký hiệu 01d và ký hiệu 08g. So với hai miếng có ký hiệu 05d và 03g ở vị trí đối xứng nhau.. Cũng từ đây chúng ta ghi nhận được là số lượng miếng vàng hình cánh hoa được trang trí  trên mũ miện ở sưu tập 4 (BTLSVN-TP.HCM) là khá đầy đủ, khá hoàn chỉnh và con số 8 hoặc 9 trên mỗi vành đai trang sức là phù hợp với quy định chung của nghệ thuật trang sức mũ miện trong tôn giáo Hindu.
    Ngoài những miếng vàng hình cánh hoa, trong sưu tập 4 còn có vật hình bông sen – một vật trang sức nổi bật nhất. Nó chắc chắn được gắn trên đỉnh mũ miện: song hầu như chúng ta không thấy dấu vết của khoen, của mấu, hay những lỗ xuyên thủng để kết nối. Do đó, có thể suy đoán, sở dĩ phần ruột của hình bông sen làm rỗng hẳn là chỉ dùng để chụp hoặc úp trùm lên một vật thể khác nổi lên trên đỉnh mũ. Vật thể này có thể được gắn liền với các thanh kim loại thuộc phần cứng của mũ miện mà nay đều đã không thấy trong sưu tập. Dù sao, sự hiện diện của vật thể hình bông sen cũng cho biết trên đỉnh của mũ miện vàng của sưu tập số 4 cũng như sưu tập 2,3  đều có trang sức hình bông sen – một loại trang sức đặc biệt mà cho đến nay, hầu như chỉ thấy trên mũ miện bằng vàng trong nghệ thuật Champa.
    Nếu như trên đỉnh mũ có trang sức một chóp hình bông sen thì phần dưới miện mũ trong sưu tập 4 (BTLSVN-TP.HCM) còn có thêm một vành vương miện (diadàme) bao quanh. Như đã nói, trên vành vương miện này, ở mặt trước, chính trục giữa có cẩn một viên đá quý chạm hình chữ Sri (có ý nghĩa tối cao). Chữ Sri thường đi cùng với hình tượng thần Laskmi. Cấu thành Sri Laskmi tức có ý tôn vinh thần Laskmi cao quý. Như vậy, vành vương miện về ý nghĩa tôn giáo là có mối liên kệ chặt chẽ với mũ đội. Ngoài ra, đồ án hình hoa nở cẩn viên đá quý trên mặt sau (chính giữa) của vương miện cũng lại thuộc cùng phong cách đồ án hoa nở trên, nhiều miếng vàng hình cánh hoa trên mũ. Từ đấy có thể suy đoán hai bộ phận mũ và miện (thường gọi là vương miện) có quan hệ mật thiết cấu thành một chính thể “mũ + miện” cũng được dùng trang sức. Có điều, trên vành vương miện hầu như không thấy dấu vết liên quan đến sự kết nối nhằm hợp nhất mũ, miện thành một chiếc mũ miện. Đây cũng là biểu hiện có tính đặc thù của nghệ thuật trang sức trên mũ miện Champa hoặc ít ra trên những mũ miện bằng vàng.
    Đến đây, chúng ta đã có thể hình dung được những đường nét cơ bản về dáng xưa, về cách trang sức, cách lắp ráp, kết nối tạo thành mũ miện bằng vàng trong nghệ thuật Champa từ tư liệu của sưu tập số 4 (BTLSVN-TP.HCM). Đây là loại mũ miện cho đến nay còn hiếm thấy, là loại cổ vật quý hiếm trong kho tàng văn hóa cổ Champa. Nó mang sắc thái riêng của văn hóa – tôn giáo Champa làm trang sức chủ đạo là hình hoa lá, hình bông sen làm đặc trưng tiêu biểu…


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.    Cao Xuân Phổ “Điêu khắc Chăm” Hà Nội, NXB Văn hóa Dân tộc, 1988.
2.    Lê Xuân Diệm – Vũ Kim Lộc “Cổ vật Champa” Hà Nội, NXB Văn hóa Dân tộc, 1996.
3.    Ngô Văn Doanh “Văn hóa cổ Champa” Hà Nội, NXB Văn hóa Dân tộc, 2002.
4.    Phạm Thúy Hợp “Điêu khắc đá Champa tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM”, xuất bản Bảo tàng Lịch sử VN – TP.HCM, 2003.
5.    Sở Văn hóa Thông tin TP.HCM “Cổ vật tiêu biểu tại TP.HCM”, xuất bản Sở VHTT – TP.HCM, 2005.
6.    Boisscher J. “La statuaire du Champa: recherches sur les cultes et luconographic” Prris, EFEO, 1963.
7.    Vandermeersch L & Pierre Ducrest J. “Le museé de sculptures Cham de Đà Nẵng” Paris, AFAO 1997.
8.    Fédéric .L “Dictionaire de la civilisation indienne” Aylesberry – Robert Laffont, 1991
9.    Gupta R.S. “Iconography of the Hindus, Buddhists and Jains” Bombay – D.B. Taraponavalea sons & co private LTD 1980.
10.    B. Arundhati “Images, attributes and motifs (studies in early indian art of numismatics” , New Delhi Sun deep Praleashan 1902.