Đăng kí nhận thông báo
Thống kê
Đang Online: 6
Truy cập hôm nay: 36556
Tổng số truy cập: 1956936
 
Yahoo Messenger
donhuminhkhoa
 
Đặt quảng cáo

 

TẤM BIA BẴNG GỖ THỜI NGUYỄN - Phạm Hữu Công, Trần Thị Thúy Phượng

2012-06-13 19:47:05

Bia thuộc sưu tập của ông Hoàng văn Cường (TPHCM). Bia được làm bằng nhiều miếng gỗ ghép lại từ khung bao, mặt bia cho đến chân đế. Phần chính của bia là: Mặt bia gồm 4 miếng gỗ trên khắc chữ Hán, phía ngoài có khung bao hình chữ nhật cạnh ngang: 143cm, cạnh đứng: 111cm trong đó cạnh ngang trên (phần trán bia) không phải vòm tròn như bia bằng đá mà được cắt bằng những đường thước thợ đối xứng, cạnh dưới bia cũng tương tự. Bia được đặt trên một giá gỗ hình chữ U ôm gọn cạnh ngang dưới và 1/3 chiều cao 2 cạnh đứng tạo nên thế vững vàng như tấm bình phong. Chiều cao tổng thể (kể cả giá): 157cm.

Bằng nghệ thuật chạm nổi, sơn son thếp vàng, bia được trang trí đối xứng: ở bìa cặp cạnh đứng trang trí thành một hộp dài hình ô trám xoáy, đỉnh là cây bút cắm giữa tâm hộp, thân hộp chia 3 đoạn: đoạn trên là hoa thị trong vòng tròn cách đoạn giữa bởi đường thước thợ sơn đen như hình chữ V, đoạn giữa mô tả long giáng ở trên,long thăng ở dưới ẩn hiện trong mây, đoạn cuối tương tự như đoạn trên. Cạnh ngang trên (trán bia) là lưỡng long chầu nhật uốn lượn trong mây theo các đường thước thợ, cạnh ngang dưới cũng là lưỡng long tương tự như cạnh trên nhưng lại là triều vân. Rồng chạm trên bia có 6 bờm tóc, đuôi hình quả cầu, 4 móng.

Nội dung chữ Hán trên bia:

Âm Hán Việt: ( Cao Tự Thanh đọc, phiên âm và dịch nghĩa)

Tự Đức thất niên Giáp dần lục nguyệt Tân mùi nhị thập tam nhật Canh dần Canh thìn bài vương hoăng. Nội các phụng thượng dụ “Diên Khánh công vi quốc ý thân tố đôn khiêm, cẩn phụng ngã hoàng khảo đặc gia quyến chú nhi trẫm vưu sở lễ trọng yên. Tạc văn cai công cảm dạng, tức mệnh Ngự y Vũ Đức Nhu, Nguyễn Hạnh đẳng luân vãng điều hộ, cập tiết mệnh Trung sứ tự cấp thượng phương nhân sâm trân quế chư dược phẩm ký kỳ quyên kha diên thọ, vĩnh thừa ân sủng. Bất liệu nhất bệnh trường từ, thù thâm thống tích, dĩ tứ nhật xuyết triều. Kỳ cai công thân hậu sự nghi chuẩn Lễ bộ đường quan Thân Văn Nhiếp, Hiệp lãnh Thị vệ Nguyễn Ninh, Nội vụ phủ Lang trung Phạm Thao tịnh Vũ khố thuộc viên tiền vãng cai công phủ chiếu tùng niên tiền cố Kiến An vương bao sự lễ lệ chi hạng tùng ưu biện lý. Phàm nhất thiết tế điện lễ phẩm tịnh tu tạo phần oanh quân chuẩn quan vi chiếu biện. Tái gia cấp tứ thiên quan, nhưng trước Tôn nhân phủ lân phái Tôn thất tam tứ phẩm quan nhị viên hội đồng cai công chi tử Diên Linh đẳng chiếu liệu, vụ kỳ chu thỏa, dụng thị trẫm niệm chu thân chí ý. Các cai nha môn tức tuân dụ hành. Khâm thử”.

Thị nguyệt nhị thập thất nhật phụng dụ trước “Tuy Lý công đới đồng Nhất đẳng thị vệ tê thiên trù trân tu ngọc soạn tứ điện. Khâm thử”

Thị nhật Nhất đẳng thị vệ Nguyễn Ninh phụng sắc “Lãnh cấp tiền nhất thiên quan trước giao công tử Diên Linh nhận lãnh phụ biện tang sự. Khâm thử”.

 

Tự Đức thất niên lục nguyệt nhị thập ngũ nhật Nội các phụng thượng dụ “Thử thứ Diên Khánh công nhân bệnh (*) thệ, trẫm tâm thù thâm thống tích chi chí. Lánh dĩ giáng dụ các cai nha môn tòng ưu liệu lý tang sự. Nhân niệm công tước xỉ đạt tôn, phiên hàn cựu đức, cảm niệm tồn một thích yên dư tâm, viên chế thất ngôn luật vãn thi nhất chương, dĩ biểu tiềm đức chi u quang, nhi ngụ thân thân chi vĩnh cảm. Kỳ giá thi chương kinh chuẩn thiện xuất nhị đạo sĩ chí tứ tửu nhật trước phái Nội các Thị lang Vũ Duy Ninh cung tê tiền vãng cai công phủ đệ tuyên dụ tuyên thi, nhưng tương nhất đạo phần hoàng, nhất đạo phát giao công tử Diên Linh đẳng phụng thủ, tỳ chi triêu tịch phùng tụng cảnh tỉnh, như trẫm diện huấn, thứ vô dĩ đãng lăng đức, duy trung duy hiếu, bất vẫn gia thanh, dụng ủy công sinh bình ưu ái chi tâm, nhi phó trẫm đôn thân giáo hiếu chí ý. Khâm thử”.

 Ngự chế thi

Điệu Diên Khánh công

Viêm phong nhục thử đố lan phân,

Giới lộ ca thanh ná nhẫn văn.

Lư mộ tam niên cam tuẫn mẫu (1),

Quy tuyền nhất ngữ bất vong quân ( 2).

Ty luân khuyến hiếu do thư đới (3),

Ấn thụ tinh hiền vị thiểm văn (4).

Chu Thiệu phương hình thùy khả nghĩ,

Hậu côn hà dĩ kế huân huân (5).

(*) Chỗ này trên văn bản có một chữ không đọc được.

(1) Công ư Tự Đức ngũ niên đinh hữu mẫu ưu, cư tang tận ai tận lễ. Chí kim phục khuyết nhiên (13 chữ bị vỡ không đọc được)... thâm, cố bất kỳ nhiên nhi nhiên dã. Hiếu vi bách hạnh chi tiên, tuân túc vi thế giám

(2) Dư văn công ư bệnh kịch chi tế đãn đối nhân vân “Toàn gia thụ quốc hậu ân, vị hữu quyên ai dĩ đồ xứng, bất hạnh nhất đán từ thế, thành thâm ẩm hận” nhi dĩ, chung vô nhất ngữ cập gia sự, kỳ bình sinh ưu ái chi thành, thiên cổ do khả khái kiến.

(3) Thiệu Trị thất niên phụng ngã hoàng khảo bằng phàm di chúc chi tế, công nhật dạ thị trắc, phụng diện dụ mạo cung vân “Diên Khánh công chất tính phác trung, sự trẫm tối cẩn, ư ngã chu thân chi trung, trẫm vưu sở thân ái yên nhĩ. Hậu nhật nghi hậu ngộ cai công chi sinh mẫu Nguyễn Hữu thị nghi phong vi Chiêu nghi dĩ ủy kỳ hiếu tâm, dụng đáp lao tích. Khâm thử”, kỳ sủng quyến đặc dị hữu như thử. Công diệc thâm cảm thánh ân, tận tâm tương tán. Cố thị niên tang nghi thứ vụ công tự thỉnh thân đổng kỳ sự, thủy chung trù biện, nhất giai thỏa tế. Tư nhân hồi tư vãng sự, bệnh tích hạt thăng.

(4) Trẫm ý tương sĩ công phục khuyết tấn phong vương tước, thứ thượng khả dĩ chiêu ngã hoàng khảo quyến chú chi ân, hạ khả dĩ xứng trẫm kích khuyến chi ý, bất liệu hoài khôi (côi) mai ngọc, túc chí vị thù, lương khả tích dã.

 

(5) Công vi tứ triều tôn thần, nghi hình cụ tại, đãn khủng công chi tử tôn dĩ đãng lăng đức hoặc huy gia thanh, cố huấn giới chi kỳ vọng chi, thứ cơ vô phụ công trung hậu chi đức hĩ. Thị nhật phụng thượng dụ “Thử thứ Diên Khánh công tang sự, tiền kinh giáng dụ các cai nha môn tùng ưu biện lý hĩ. Tư trước phái Ninh Thuận công Miên Nghi tiên hành đới đồng Lễ bộ Thị vệ tê đệ thượng phương trà phẩm tửu phẩm, dĩ bản nguyệt nhị thập thất nhật tiền vãng cai công phủ đệ đại trẫm tứ tửu tứ trà. Tái quyên cát nhật do sở ty bị biện lễ phẩm, do cai thân công khâm mệnh tứ tế nhất đàn dụng chương hậu đạo. Khâm thử”.

Tự Đức thất niên nhuận thất nguyệt sơ tứ nhật Nội các phụng thượng dụ “Tự cổ quân tử đức vi bang gia chi quang mạc bất sinh hữu vinh danh, tử hữu hiển hiệu. Huống dĩ quốc chi ý thân hữu niên hữu đức, khả bất biểu nhi hiển chi dĩ khuyến thân thân da? Quyến duy Diên Khánh công phiên phụ tứ triều, trung phác nhất trí, phụng ngã hoàng khảo tại ngự chi thần chu thân chi trung, vưu sở lễ dị. Trẫm chi thừa tiên huấn, đốc niệm thân huân, duy công tước xỉ ký tôn nhi cao cầu bỉnh chính, tuần tường ích cung, trẫm thậm gia chi, hầu vương ấn thụ vị dĩ thần tứ, thiên táng cẩu tháo phất tỳ bình. Dư nhất nhân ngôn niệm cựu đức, lương dụng trắc nhiên, công tang sự hữu kỳ, tạc kinh trung mệnh hữu ty ưu cấp tuất điển. Tuy Hán Đông Bình hữu Hổ bôn loan lộ chi tứ ân lễ đãi bất thị quá trọng. Niệm lễ hữu dịch danh, quân tứ chi thụy, cổ chi đạo dã. Dĩ công đức nghiệp huân vọng dữ cố Kiến An vương tiên hậu huy chiếu tuân xưng cạnh sảng, đương sủng dĩ thù điển, tứ dĩ đại phong, tỳ công đức nghiệp thùy vu bất hủ. Diên Khánh công trước truy phong vi Diên Khánh vương, tứ thụy Cung chính. Thi vân “Ôn ôn cung nhân, Duy đức chi cơ”, Ký vân “Trung chính vô tà, lễ chi chất dã”, vi ngã hiền vương kỳ đôn hữu chi, cửu nguyên hữu linh bảo tư vinh sủng. Kỳ thứ trưởng tôn hội kỳ sĩ hậu trưởng thành trước do Tôn nhân phủ tấu thỉnh tập phong hầu tước, phụng thừa vương tự, dụng thị trẫm sùng đức tượng hiền chi ý. Lễ bộ tri đạo. Khâm thử”.

  Tử Khâm Thạnh Diên Điệp cung thuyên

Dịch nghĩa:

Giờ Canh thìn ngày 23 Canh dần tháng 6 Tân mùi năm Giáp dần Tự Đức thứ 7 vương mất. Nội các vâng lời thượng dụ nói “Diên Khánh công là người thân đức tốt của nước, đã kính phụng hoàng khảo ta đặc biệt yêu quý mà trẫm lại càng kính trọng. Hôm trước nghe công bị cảm, lập tức sai Ngự y là bọn Vũ Đức Nhu, Nguyễn Hạnh thay phiên tới chữa trị, kế lại sai Trung sứ ban cấp các vị nhân sâm quế chi hạng nhất để được khỏi bệnh thêm tuổi thọ, đội ơn nước mãi mãi. Không ngờ một cơn bệnh là xa mãi, vô cùng đau xót nuối tiếc, cho nghỉ chầu bốn ngày. Việc hậu sự của công chuẩn cho đường quan bộ Lễ Thân Văn Nhiếp, Hiệp lãnh Thị vệ Nguyễn Ninh, Lang trung phủ Nội vụ Phạm Thao cùng thuộc viên ở Vũ khố tới phủ đệ của công theo lệ hạng ưu như lễ tang Kiến An vương năm trước thu xếp. Phàm tất cả lễ phẩm tế điện và tu tạo phần mộ đều chuẩn cho lấy tiền công khố lo liệu. Lại cấp thêm bốn ngàn quan, vẫn cho phủ Tôn nhân phái hai viên quan tam phẩm tứ phẩm hội đồng với con của công là bọn Diên Linh sắp đặt, cốt cho trọn vẹn ổn thỏa để làm rõ ý chu toàn người thân của trẫm. Các nha môn ấy phải lập tức tuân dụ thi hành. Kính đấy”.

   Ngày 27 tháng ấy vâng lời thượng dụ nói “Tuy Lý công đem theo Nhất đẳng thị vệ mang thức ăn ngon tới ban tế. Kính đấy”.

  Hôm ấy Nhất đẳng thị vệ Nguyễn Ninh phụng sắc sai “Lãnh một ngàn quan tiền giao cho con của công là Diên Linh nhận lãnh để phụ lo liệu việc tang. Kính đấy”

Ngày 25 tháng 6 năm Tự Đức thứ 7 Nội các vâng lời thượng dụ nói “Lần này Diên Khánh công vì bệnh qua đời, trẫm vô cùng đau xót nuối tiếc, đã giáng dụ sai các nha môn lo liệu việc tang. Nhân nhớ lại công tuổi tước đều cao, phiên hàn đức cũ, nghĩ tới chuyện kẻ mất người còn, lòng ta đau nhói, nên làm một bài thơ thất ngôn luật viếng, để làm rõ đức tốt sâu kín mà bày tỏ ý thân với người thân. Bài thơ này chuẩn cho sao làm hai bản, chờ đến ngày ban rượu tế phái Thị lang ở Nội các là Vũ Duy Ninh kính cẩn mang tới phủ đệ của công tuyên đọc lời dụ và bài thơ, một bản trên giấy vàng thì đốt đi, một bản phát giao cho bọn Diên Linh con của công kính giữ, để hôm sớm tự cảnh tỉnh, cũng như trẫm dạy bảo trước mặt, ngõ hầu không phóng đãng làm phế bỏ đức tốt, giữ trung giữ hiếu, không làm mất tiếng nhà, để an ủi tấm lòng ưu ái của công lúc bình sinh, mà đền đáp cái ý đôn đốc người thân trẫm dạy bảo điều hiếu của trẫm. Kính đấy”.

Thơ ngự chế

Khóc Diên Khánh công

Gió hè hơi nóng ghét mùi lan thơm,  

Lời ca “Hạt móc trên lá hẹ” (*) thật không nỡ nghe.  

Ba năm bên mộ cam lòng theo mẹ (1)

Một lời trước khi chết không hề quên vua (2)

Sợi tơ khuyến khích lòng hiếu còn ghi trên đai lưng (3)

Ấn thụ biểu dương người hiền chưa ban sắc văn (4)

Vết thơm khuôn mẫu của Chu công Thiệu công ai có thể noi theo,

Người sau lấy gì nối tiếp công to (5)

(*) Lời ca “Hạt móc trên lá hẹ”: nguyên văn là “giới lộ chi ca”, là tên khúc ca Giới lộ Cảo lý trong tang lễ thời xưa, đến thời Hán Vũ đế nhạc sư Lý Diên Niên chia làm hai khúc, khúc Giới lộ dùng trong tang lễ vương công, khúc Cảo lý dùng trong tang lễ sĩ đại phu và thứ dân. Giới lộ nghĩa đen là hạt móc trên lá hẹ, dùng ví với đời người mong manh như hạt móc đọng trên lá hẹ, đã nhỏ nhoi lại không chắc chắn.

(1) Nguyên chú: Công vào năm Tự Đức thứ 5 có tang mẹ, cư tang tận lễ. Đến nay hết tang (văn bản vỡ mất 13 chữ)... sâu, cho nên không mong như thế mà lại như thế. Hiếu là đức đầu trăm nết, đủ làm gương cho đời

(2) Nguyên chú: Ta nghe lúc công bệnh nặng chỉ nói “Cả nhà chịu ơn hậu của nước, chưa báo đền được chút gì cho xứng đáng, không may một sớm lìa đời, thật rất ân hận” mà thôi, không có lời nào nói tới việc nhà, lòng ưu ái lúc bình sinh, ngàn sau còn có thể thấy được.

(3) Nguyên chú: Năm Thiệu Trị thứ 7 vâng lúc hoàng khảo ta làm di chúc, công ngày đêm chầu hầu bên cạnh, vâng lời dụ trước mặt nói “Diên Khánh công tính tình chất phác trung thành, thờ trẫm rất kính cẩn, trong những thân chung quanh thì trẫm yêu quý nhất. Ngày sau nên đãi ngộ cho hậu, nên phong Nguyễn Hữu thị mẹ ruột của công làm Chiêu nghi để an ủi lòng hiếu, báo đáp vất vả. Kính đấy”, yêu quý đặc biệt tới như thế. Công cũng rất cảm kích ơn vua, hết lòng giúp đỡ. Cho nên việc tang lễ năm ấy công tự xin đứng ra đôn đốc, trước sau trù biện đều được ổn thỏa. Nay vì nhớ lại việc cũ, bệnh nặng không khỏi.

(4) Nguyên chú: Ý trẫm là định chờ lúc công hết tang sẽ tấn phong tước vương, ngõ hầu trên có thể làm rõ ơn yêu quý của hoàng khảo ta, dưới có thể thỏa lòng khuyến khích của trẫm, không ngờ ôm châu chôn ngọc, ý trước chưa thỏa, rất đáng tiếc vậy.

(5) Nguyên chú: Công là bề tôi tôn thất bốn triều, khuôn mẫu đều còn, nhưng e con cháu của công phóng đãng phế bỏ đức tốt làm mất tiếng nhà, nên vừa răn bảo vừa kỳ vọng, ngõ hầu không phụ đức tốt trung hậu của công.

Hôm ấy vâng lời thượng dụ nói “Việc tang sự của Diên Khánh công lần này, trước đã ban dụ cho các nha môn theo lễ ưu hạng mà thu xếp. Nay phái Ninh Thuận công Miên Nghi cùng bộ Lễ và Thị mang theo trà rượu hạng nhất, đến ngày 27 tháng này tới phủ đệ của công thay mặt trẫm ban rượu tế trà tế. Lại chọn ngày tốt sai sở ty chuẩn bị lễ phẩm, do thân công ấy khâm mệnh ban tế một đàn để làm rõ đạo trọng hậu. Kính đấy”.

Ngày 4 tháng 7 nhuận năm Tự Đức thứ 7 Nội các vâng lời thượng dụ nói “Từ xưa bậc quân tử có đức làm rỡ ràng cho nước cho nhà không ai không sống thì có tên hay, chết được ban hiệu tốt. Huống hồ là người thân đức tốt tuổi cao đức lớn của nước, há lại không làm rõ điều tốt để khuyến khích việc thân người thân sao? Nghĩ Diên Khánh công là thân công bốn triều, trung thành chất phác, lúc hoàng khảo ta ở ngôi trong những người thân đã đặc biệt kính trọng. Trẫm theo lời tiên huấn, lại nghĩ tới người thân có công, duy công tước phong tuổi tác đều cao mà gi lòng ngay thẳng, theo phép khiêm cung, trẫm rất khen ngợi, ấn thụ hầu vương chưa kịp ban cho, trời chôn người già đã không chờ đợi. Ta riêng nhắc nhớ đức xưa, thật rất thương xót, việc tang của công hôm trước đã sai hữu ty cấp cho tuất điển hạng ưu, dù như Đông Bình vương nhà Hán được ban ơn cho có quân Hổ bôn dẹp đường cũng không phải là quá hậu. Nghĩ lễ có đổi tên, vua ban tên thụy, là đạo thời cổ. Như công đức nghiệp huân vọng cùng Kiến An vương đã quá cố trước sau soi nhau, đều cùng sáng ngời, nên theo điển lễ đặc biệt, ban cho tước lớn, để đức vọng lưu lại muôn đời không nát. Diên Khánh công chuẩn cho truy phong làm Diên Khánh vương, ban cho tên thụy là Cung chính. Kinh Thi, Đại nhã, Ức nói “Cung kính ôn hòa là nền của đức”, Kinh Lễ, Nhạc ký nói “Trung chính không tà là gốc của lễ”, hiền vương của ta đức vốn như thế, chín suối có linh hãy nhận vinh sủng. Còn cháu đích tôn đợi khi trưởng thành sẽ do phủ Tôn nhân tâu xin tập phong tước hầu giữ việc thờ cúng cho vương, để làm rõ ý trẫm tôn kẻ đức nhớ người hiền. Lễ bộ nên biết. Kính đấy”.

  Con là Khâm Thạnh Diên Điệp kính khắc.

Theo nội dung trên thì đây là tấm bia ghi lại sự kiện Diên Khánh Công chết, được vua Tự Đức sai làm đám tang và ban cho bài thơ “ Khóc Diên Khánh Công”.

Diên Khánh Công là ai? Nguyễn Phúc Tộc thế phả cho biết:

 “Diên Khánh Công tên Nguyễn Phúc Tấn, là con trai thứ 7 của Gia Long, mẹ là Chiêu Nghi Nguyễn Thị Điền, sinh ngày 16 tháng 2 Kỷ Mùi tức 21-3-1799 chết ngày 23 tháng 6 năm Giáp Dần tức ngày 17-7-1854, theo vai vế thì thuộc hàng ông chú của Tự Đức.

Năm 1817 thời Gia Long, ông được phong là Diên Khánh Công. Trong thời Minh Mạng ông bị trách phạt 2 lần: lần 1 vì lạm quyền đánh quan triều đình, lần 2 vì âm mưu trốn thuế. Thời Thiệu Trị ông hầu cận vua hết lòng nên được Thiệu Trị di chiếu cho Tự Đức phải hậu đãi ông. Vì vậy khi ông chết được Tự Đức ưu đãi ban cho nhiều đặc ân như trên đã biết.”

Tấm bia này được con của ông là Nguyễn Phúc Diên Điệp khắc. Thời điểm khắc bia theo bản văn trên là vào khoảng tháng 7 nhuận năm Tự Đức thứ 7 tức khoảng tháng 9 năm 1854.

Đây là tấm bia có nội dung kỷ niệm sự kiện thuộc thời cuối Nguyễn.