Đăng kí nhận thông báo
Thống kê
Đang Online: 4
Truy cập hôm nay: 40704
Tổng số truy cập: 1956875
 
Yahoo Messenger
donhuminhkhoa
 
Đặt quảng cáo

 

PHÁT HIỆN NHỮNG NGÔI MỘ GẠCH KIỂU HÁN Ở DI TÍCH CHÙA LINH XỨNG – HÀ TRUNG – THANH HOÁ - Lương Chánh Tòng

2012-06-13 19:40:53

Chùa Linh Xứng toạ lạc trên núi Ngưỡng Sơn, thuộc thôn Bốn, xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, có tọa độ địa lý N 19o 97’ 517’’; E 105o 82’ 809’’, từ ngày 09 tháng 10 đến ngày 24 tháng 11 năm 2009, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, Ủy ban Nhân dân huyện Hà Trung tiến hành khai quật di tích chùa Linh Xứng lần thứ nhất. Trong quá trình khai quật, chúng tôi đã phát hiện được 4 ngôi mộ kiểu Hán, dưới đây là kết quả nghiên cứu về các ngôi mộ này.

1. Mộ số 1 ký hiệu: 09.LX.M1

Mộ nằm ở sườn núi phía Đông của núi Ngưỡng Sơn, đã bị phá hủy chỉ còn lại một phần phía cuối mộ. Loại mộ này nhân dân quanh vùng gọi là “Am”. Dấu tích mộ còn lại một phần tường phía Tây – ăn vào sườn núi.

- Cấu trúc và kỹ thuật xây dựng: mộ bị phá huỷ nên không rõ cấu trúc rõ ràng, tuy nhiên dấu tích còn lại cho thấy mộ nằm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Cửa mộ được đoán định nằm về hướng Tây Bắc. Phần tường mộ phía Tây (sườn núi) dài còn lại 2m, tường mộ phía Đông dài còn lại 0,42m. Phần tường hậu chỉ còn một phần do bị tường bao hiện đại xây chèn lên trên. Trên phần tường phía Tây có nhiều viên gạch trang trí hoa văn trám lồng. Kỹ thuật xây không quy chuẩn, song về cơ bản được xây xen kẽ đổi chiều. Lợi dụng đá núi là dạng đá phiến mềm và bở người ta đã đào một huyệt mộ sau đó xây mộ. Mộ hiện còn quan sát được 2 ngăn phân biệt biệt nhau bởi 1 tường ngăn. Nền mộ lát gạch múi bưởi, bị mất chỉ còm một phần. kích thước gạch: 30x15x2,5-3,5xm. Lòng mộ phía Đông Nam rộng 1,16m.

 - Di vật: mộ còn giữ lại được một số mảnh mô hình nhà, mô hình giếng, các vò gốm…đồ tùy táng đều ở dạng gốm nung ở nhiệt độ thấp nên bở, phần lớn đã bị biến dạng, số còn lại chỉ là hình dáng nhưng cũng không đầy đủ và một số mảnh gốm – sành có văn in caro (ô vuông) kiểu Hán. Không tìm thấy gốm tráng men và các loại hình di vật chất liệu khác.

2. Mộ số 2 ký hiệu: 09.LX.M2

- Cấu trúc và kỹ thuật xây mộ: Mộ phát hiện được trong hố khai quật 4 (09.LX.H4), đây là mộ gạch có cấu trúc dạng mộ vòm, do đã bị phá hủy nên phần vòm mộ không còn đầy đủ. Mộ hình chữ nhật: dài 5,4m, rộng 2,1m. Cửa mộ ở hướng Tây Nam. Biên mộ cho thấy để xây mộ, người ta đào một huyệt mộ qua các lớp đá đồi với chiều dài 6m, rộng 2,5m. Mộ chia làm 2 ngăn, ngăn ngoài (tiền thất) và ngăn trong (hậu thất) dài 0,7m. Tường mộ được xây đôi và có vòm cuốn xây gạch hình múi bưởi. Phần vòm mộ sụp xuống còn lại rộng 0,8m, dài nhất 0,5m. Phần đầu mộ giữa tường đầu mộ và tường bên có xây hai hàng trụ gạch dạng bổ trụ. Tường cửa mộ cao còn lại từ 1,2m đến 1,4m. Nền mộ được lát gạch múi bưởi in hoa văn trám lồng và gạch không trang trí hoa văn, để tránh trùng mạch kết hợp sử dụng một số viên gạch có dạng gần vuông (kích thước dài ≈1/2 viên gạch thường). Đất trong mộ là đất sét vàng dẻo, rất mịn như chưa bị xáo trộn bởi đào phá, nhưng khi bóc hết các lớp đất này thì hầu hết di vật đã bị lấy mất, chỉ còn lại một số, số này chỉ không nguyên vẹn, thiếu bộ phận, vỡ nát, nằm rải rác mà không theo trật tự. Rất có thể mộ đã bị phá huỷ từ xa xưa.

- Di vật: Hiện vật trong mộ chỉ còn lại là những mảnh vỡ của đồ gốm và một số bộ phận, mái mô hình nhà.

3. Mộ số 3 ký hiệu: 09.LX.M3

- Cấu trúc và kỹ thuật xây dựng mộ: Mộ nằm trong hố khai quật 2 (09.LX.H2), mộ nằm theo chính hướng Bắc Nam, cửa mộ phía Bắc. Chiều dài lòng mộ là 4,46m; rộng lòng mộ là 1,19m (phía Nam) và 1,16m (phía Bắc). Phần vòm hiện còn cao nhất là 0,97m. Tường mộ xây gạch múi bưởi, chủ yếu là màu đỏ hồng vân trắng độ nung thấp, gạch màu xám xanh độ nung cao, đanh, chắc và một số có hoa văn ô trám lồng hoặc trám đơn. Tường cao còn lại 0,75m. Tường được xây bằng cách chồng đảo chiều các viên gạch múi bưởi, được xây sau khi đã lát nền mộ.

Đáy mộ hiện còn không đầy đủ chia thành 3 ô được ngăn cách nhau bởi 2 hàng gạch. Nền mộ để lại một lớp đất đen ở độ sâu cách đáy mộ 0,1m dài từ tường phía Nam ra khoảng 2,1m. Có khả năng đây chính là phần quan tài đã bị mục nát. Kích thước gạch đo được như sau: 31cm x 13,5cm x 3cm x 2cm.

- Di vật: Hiện vật trong mộ: gồm vò gốm men, nồi sành kiểu Hán, một số đồ đựng đất nung đã vỡ nát, mô hình nhà, vườn, giếng..., một cụm tiền Ngũ Thù dạng xâu kết dính.

4. Mộ  số 4 – KH:09.LX.M3 

- Cấu trúc và kỹ thuật xây mộ: Mộ nằm ở hố 3, xuất lộ ở lớp 3, theo hướng Bắc – Nam lệch Đông 200, góc mộ phía Đông cách vách Đông 1,4m và cách vách Nam 0,95m. Mộ dài 4,2m; rộng lòng 1m và chỉ xây bằng 1 lớp gạch. Vòm mộ bắt đầu từ độ cao 0,75m so với đáy mộ, xây gạch múi bưởi hoa văn hình ô trám đơn hoặc ô trám lồng. Tường mộ: Kích thước tường dọc, mặt phía trong dài 3,9m; tường ngang - tường cuối mộ (phía Đông) rộng 1,09m. Phần tường cao 0,75m, xây hoàn toàn bằng gạch múi bưởi đặt trái chiều nhau, một số gạch có hoa văn trám đơn hoặc trám lồng. Cửa mộ: Nằm về phía Tây. Đáy mộ còn giữ lại được một giường mộ - nơi để quan tài, cao hơn so với nền mộ một hàng gạch. Phần phía ngoài mộ chèn chặt rất nhiều đá lớp kích thước tương đối lớn: 26cm x 23m x 7cm. Di vật chỉ còn lại một số nằm ở phía cuối mộ.

- Di vật: hiện còn một  số hiện vật như bình, lọ song đã bị vỡ nát, chất liệu đất nung, thô, màu đen, bở.

 Một vài nhận xét:

Căn cứ vào cấu trúc, kỹ thuật xây mộ, di vật tuỳ táng, so sánh với các mộ Hán đã phát hiện trong thời gian qua thì đây là những ngôi mộ xây gạch có vòm kiểu Hán. Loại hình mộ kiểu này số lượng di vật chôn theo tương đối lớn, bao gồm nhiều loại hình di vật. Tuy nhiên, tất cả mộ kiểu Hán ở khu vực di tích chùa Linh Xứng đã bị phá hủy, nên số lượng và loại hình di vật không giữ được như hiện trạng ban đầu. Căn cứ vào nhóm di vật mô hình nhà, đồ gia dụng chất liệu gốm thô, bán sành in văn caro, gốm tráng men, chúng tôi cho rằng các ngôi mộ này có niên đại khoảng thế kỷ 4- 6 sau Công nguyên. Đây là nguồn tư liệu bổ sung, cung cấp thêm tư liệu để nghiên cứu về các  ngôi mộ kiểu Hán và giai đoạn 10 thế kỷ sau Công nguyên ở Việt Nam.

 

09.LX. BẢNG TỔNG HỢP HIỆN VẬT TRONG CÁC MỘ

               

Loại hình

Mô hình nhà

Đồ gốm men

Gốm đất nung

Đồ đá

Đồ kim loại

Tổng

Tỷ lệ

 

Mộ

M1

27

 

10

 

 

 

37

51.39%

M2

5

 

4

1

 

 

10

13.89%

M3

8

4

10

 

1

 

23

31.94%

M4

 

 

2

 

 

 

2

2.78%

M5

 

 

 

 

 

 

 

0.00%

M6

 

 

 

 

 

 

 

0.00%

M7

 

 

 

 

 

 

 

0.00%

Tổng

 

40

 

4

 

26

 

1

 

1

 

72

 

Tỷ lệ

55.56%

5.56%

36.11%

1.39%

1.39%

 

100.00%

 

 

Tài liệu tham khảo

1. Phan Tiến Ba (1988) Mộ gạch 10 thế kỷ đầu Công nguyên, Khảo cổ học, số 1-2, tr.99.

2. Nguyễn Ngọc Chất, Trương Đắc Chiến, Trần Minh Nhật, Đỗ Trần Cư (2005). Kết quả khai quật mộ cổ Gò Đống Vằn (Hoài Đức - Hà Tây năm 2005). Trong Thông báo khoa học Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, tr. 57-71.

3. Lê Thị Liên và cộng sự (2006), Báo cáo kết quả thám sát và khai quật di tích chùa Bí Thượng (Quảng Ninh) năm 2006, Tư liệu Viện khảo cổ học.

 

4. Lại Văn Tới và cộng sự 2007. Báo cáo sơ bộ khai quật mộ gạch Dục Tú. Báo cáo tại Hội nghị Thông báo Khảo cổ học năm 2007.