Đăng kí nhận thông báo
Thống kê
Đang Online: 13
Truy cập hôm nay: 76578
Tổng số truy cập: 3313569
 
Yahoo Messenger
donhuminhkhoa
 
Đặt quảng cáo

 

LĂNG THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT NGUYỄN VĂN TỒN (Xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long)

2013-01-04 15:28:22

Ngay từ thế kỷ 18 (1732) với Dinh Long Hồ, Vĩnh Long đã là một trong những trung tâm chính trị của chúa Nguyễn và cả thời Nguyễn sau này ở Nam Bộ. Bên cạnh một số di tích lịch sử văn hoá như Đình, Chùa, Miếu… hiện tại Vĩnh Long còn có một số quần thể lăng mộ cổ chứa đựng nhiều giá trị về kiến trúc nghệ thuật,

Lương Chánh Tòng


giá trị lịch sử văn hoá gắn liền với thân thế và sự nghiệp của tiền nhân trong cuộc khai phá vùng đất Vĩnh Long nói riêng và vùng đất Nam Bộ Việt Nam nói chung. Trong đó có một lăng mộ của quan đại thần triều Nguyễn người Khmer – Lăng Thống chế Điều bát Nguyễn  Văn Tồn.
Lăng Nguyễn Văn Tồn, còn gọi là Lăng Ông hay Lăng Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn, toạ độ địa lý: 90.58’.38” Vĩ độ Bắc; 1050.56’.23” Kinh độ Đông. Nằm trên địa phận Ấp Mỹ Hòa, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, cách trung tâm TP Vĩnh Long khoảng 40km về hướng Đông Nam.
Nguyễn Văn Tồn được Đại Nam liệt truyện ghi chép như sau: Người phủ Trà Vinh nước Chân Lạp, nguyên làm nô trong cung cấm. Mùa xuân năm Giáp Thìn (1786), theo vua sang Vọng Các làm Cai Đội...Tồn khi trước tên là Duyên, không có họ, vì theo đuổi có công bèn cho họ và tên. Năm Gia Long thứ 1 (1802), thăng Cai Cơ. Sai Nguyễn Văn Tồn kiêm quản cả 2 phủ: Trà Vinh, Mân Thiết lệ thuộc vào Vĩnh Trấn... Năm thứ 9, đổi đồn Xiêm binh làm đồn Uy Viễn, cho Tồn làm thống đồn, trông coi như cũ. Năm thứ 10, lại triệu vào kinh, thăng chức Thống chế, vẫn coi đồn Uy Viễn. Khi trở về cho 10 lạng vàng, 30 lạng bạc, 200 quan tiền, 1 bộ mũ áo đại triều, rồi sai đem 1.000 lính đồn đi đóng ở thành Nam Vang. Năm thứ 18, Nguyễn Văn Tồn đốc lính khơi sông Vĩnh Tế. Minh Mạng năm đầu (1820) thì chết, sai người tới dụ tế, cho cây gấm Trung Quốc, 20 tấm vải, 100 quan tiền, cấp cho 7 tên phu coi mộ. Năm thứ 8, con là Vỵ xin truy cấp cho sắc tặng, bèn được truy tặng làm Thống chế .
Khu lăng mộ của Nguyễn Văn Tồn nằm trên một khu đất có diện tích 8000m2,  gồm nhiều công trình kiến trúc: hồ nước, nhà võ ca, nhà tiền tế, đền thờ và khu lăng mộ. Lăng mộ xây bằng hợp chất có bình đồ hình chữ nhật, kích thước dài 12,5m, rộng nhất 8,2m, được bao bọc bởi hệ thống tường thành cao dần từ ngoài vào trong (trung bình từ 0,6m đến 1m). Từ ngoài vào trong bắt đầu với cửa trước với 2 trụ biểu hình vuông (dạng đấu vuông thót đáy) trên có gắn tượng sư tử, kích thước 0,53mx0,53m, cao 1,2m chạy mở theo theo tường thành, vát góc ở hai đầu gấp khúc của tường, cửa trước mộ rộng 2,75m. Án ngữ cửa trước khu lăng mộ là một bình phong tiền ở giữa thụt sâu vào trong so với cửa mộ khoảng 0,5m, chừa lối đi mở sang hai bên vào sân tế, kích thước dài 2,43m; rộng 47cm, cao 1,65m. Sau bình phong tiền là khoảng sân tế, diện tích sâu 3,3m; rộng 6m. Tường thành ở khoảng giữa sân tế này có 2 trụ biểu nối với hai trụ biểu phía sau của phần tường trước mộ tạo thành một dạng bình phong thấp – dạng sập thờ tả hữu ở hai bên. Sau khoảng sân tế này là phần cửa mộ với hệ thống tường và 4 trụ biểu dàn ngang. Hai trụ biểu ở giữa mở ra cửa mộ rộng 2,3m; kích thước các trụ biểu này 0,5mx0,5m, cao 1,92m. Giữa các trụ biểu ở cửa mộ theo hàng ngang, trên tường thành có đắp hình mô hình dạng khám thờ cách điệu, trên nóc mô hình này có gắn tượng nghê men xanh, gốm Sài Gòn. Sau cửa mộ 1,2m là nấm mộ (mui luyện) dạng song táng trên mộ tấm đan kích thước dài 3,6mx3,75m,  dạng hình chữ nhật giật cấp, mộ Nguyễn Văn Tồn bên trái (tả nam hữu nữ) cao hơn mộ phu nhân khoảng 0,1m. Cả hai nấm mộ đều có đúc sập thờ ở phía trước. Riêng nấm mộ của Nguyễn Văn Tồn, sau sập thờ đúc hộp bia mộ có dạng mô hình tam sơn, trong đó ở chính giữa đúc ô hộc hình chữ nhật tạo thành bia. Trên bia có khắc chìm chữ Hán với nội dung: “Dung Ngọc Hầu Tiền Quân Thống Chế Điều bát Tướng Quân Nguyễn Văn Tồn tướng quân chi mộ. Sanh ư thất lục tam niên (1763) tại Trà Vinh. Chung ư Canh Thìn niên chánh nguyệt sơ tứ nhật (ngày 4 tháng 1 năm 1820). Hai bên có dạng cách điệu của cuốn thư, trên đó đắp nổi hình hoa văn lá hoá rồng cách điệu và chữ Hán ở hai bên nội dung: “Hách hiển linh uy; Hương phi vô thần”. Sau nấm mộ 0,9m là tường hậu của khu lăng mộ cũng là một bình phong hậu được làm theo kiểu giả lợp ngói âm dương với các đao mái uốn cong cách điệu một số hình xi vĩ, đầu kìm, đặt trên dạng một sập thờ chân quỳ…mặt trước bình phong hậu có chia thành các ô hộc chìm, trên đó không còn dấu hiệu của chữ Hán hay đắp nổi trang trí như nhiều khu lăng mộ khác. Ngoài ra, ở một số đầu trụ biệu và các điểm tiếp xúc giữa trụ biểu với tường thành có đắp nổi một số hình dạng con cù, cá sấu (gần giống với kỳ đà)…Phía trong tường thành khu nấm mộ hai bên đều có 5 ô hộc đối xứng, trong đó đắp nổi hình hoa lá, giỏ trái cây, lư đỉnh, bình bông, đề tài khỉ…một số đã bị bong tróc không còn nhận diện được hình dáng nguyên thủy. Ở các trụ biểu của khu lăng mộ, trên một số mặt có các ô hộc trang trí hoa lá và câu đối…
    Lăng Nguyễn Văn Tồn đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1996.
Từ bố cục mặt bằng tổng thể, vật liệu kiến trúc hợp chất, các hình thức trang trí kiến trúc, thông tin trên bi ký cho thấy đây là một khu lăng mộ mang đặc trưng của các lăng mộ các quan đại thần triều Nguyễn ở Nam Bộ, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, có thể so sánh với một số lăng mộ các quan đại thần triều Nguyễn khác như: Lăng Võ Di Nguy, Trương Tấn Bửu, Phạm Quang Triệt, ...(Tp.Hồ Chí Minh); lăng Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Khắc Tuấn (Long An); lăng Trịnh Hoài Đức (Biên Hòa); Lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc – An Giang)…
Đặc biệt, khu lăng mộ gắn liền với danh nhân Nguyễn Văn Tồn – một người Khmer ở Nam Bộ được triều đình Nguyễn trọng dụng và đã có công lao lớn trong việc khai phá vùng đất Nam Bộ, tham gia cùng với Thoại Ngọc Hầu chỉ đạo đào kênh Vĩnh Tế nổi tiếng đã được khắc ghi trên Cửu Đỉnh ở Huế, khi mất Ông được xây dựng lăng mộ theo kiểu thức của triều đình Nguyễn mà không theo các hình thức táng tục của người Khmer bản địa. Điều này cho thấy một hình thức mới là triều đình Nguyễn đánh dâu thêm phần xác lập chủ quyền của Việt Nam trên một phương diện mới  - Mộ táng  ở Nam Bộ Việt Nam.
Hàng năm, vào những ngày đầu năm, cộng đồng cư dân Việt, Hoa, Khmer tập trung về Lăng Nguyễn Văn Tồn tổ chức cúng giỗ, tổ chức lễ hội với nhiều hình thức mang nhiều giá trị văn hóa nhằm ghi nhớ công lao, tôn thờ Ông như một nhân vật lịch sử, một vị thần bảo hộ cho dân sinh trong vùng.
Tài liệu tham khảo
1.    Bảo tàng Vĩnh Long 2004: Di tích lịch sử văn hóa Vĩnh Long. Vĩnh Long.
2.    Ban quản lý di tích tỉnh Vĩnh Long 1996: Lý lịch di tích Lăng Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn.Tư liệu Ban quản lý di tích tỉnh Vĩnh Long.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH LĂNG NGUYỄN VĂN TỒN