Đăng kí nhận thông báo
Thống kê
Đang Online: 5
Truy cập hôm nay: 40712
Tổng số truy cập: 1956883
 
Yahoo Messenger
donhuminhkhoa
 
Đặt quảng cáo

 

Chiếc Lư hương bằng đồng xã Vân Chàng - Đỗ Như Kiếm

2012-06-13 19:37:50

Từ xưa, ở Việt Nam nghề đúc đồng và sử dụng đồ dùng bằng đồng đóng một vai trò thiết yếu trong văn hoá của người Việt, chúng chiếm một vị trí quan trọng với đời sống tâm linh cũng như cuộc sống hàng ngày của mọi người dân, họ nâng niu như giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc. Những hiện vật lưu tryền, sử dụng rộng rãi trong dân gian chứa đựng các giá trị về nhiều mặt lịch sử, mỹ thuật, tôn giáo. Chiếc Lư hương bằng đồng của nhà sưu tập Nguyễn Hữu Triết là một hiện vật đặc sắc rất đáng được các nhà khoa học nghiên cứu làm phong phú hơn nguồn tư liệu để phát huy giá trị di sản đó.

Lư hương có kích thước: ngang 45cm; cao 67cm, được đúc bằng đồng khá nặng, hình khối thang cân ngược gồm 3 phần (miệng, thân và chân đế), trang trí đúc nổi 4 mặt (mặt trước, sau và 2 mặt hông).

- Miệng lư hình chữ nhật, bên trên vành miệng phía trước trang trí đề tài “lưỡng long triều nhật” với cách thể hiện độc đáo: Một đôi hình tượng rồng trong tư thế “giáng long” kết hợp với nhiều vân mây gắn với lư ở điểm giữa của hai cạnh bên miệng, chờm xuống cổ và thân lư tạo thế bám vững chắc cho rồng, đuôi dựng ngược tỏa về 2 bên vừa làm quai vừa làm tăng thêm vẻ cổ kính cho chiếc lư, đuôi rồng xoắn tròn, thân rồng uốn cong theo cạnh góc vuông về phía trước, đầu vươn lên chầu mặt trời trong ngọn lửa được nâng đỡ bởi những đám mây. Rồng có vẩy phủ toàn thân, mắt lồi, cánh mũi nở, trên đầu có sừng, miệng ngậm ngọc, râu dài bờm dựng ngược, 5 móng… Vành miệng phía sau tạo dáng “song phụng trình tường” hai chim phụng xòe cánh đang múa, chân co chân duỗi đứng trên đám mây, ở giữa là mặt trăng ẩn trong vân mây. Quanh vành miệng lư là một viền nhỏ có gờ nổi tạo khung trang trí hồi văn nửa chữ “Công” giữa 2 hoa thị.

- Cổ thắt gấp khúc, giữa trang trí hình khánh trên nền hồi văn chữ Vạn, trên dưới đối xứng với những cánh hoa sen xếp lớp tỏa từ giữa ra 2 cạnh. Bên trên như nâng đỡ vành miệng, dưới nhìn như úp xuống thân tạo cho lư thêm phần mềm mại.

- Thân trang trí 4 mặt (mặt trước, sau và 2 mặt hông) đề tài tứ linh trong khung diềm hồi văn chữ Vạn. Dưới khung này giật 1 cấp tạo thành khung nhỏ hình chữ nhật, bên trong cũng có ô hình khánh trên nền hồi văn chữ Vạn, chạm các dòng lạc khoản chữ Hán đọc từ phải sang trái:

  Mặt chính diện: Giữa bốn cạnh của khung có trang trí hình cổ đồ (Cuộn giấy, sách, quạt và bình rượu) được buộc bởi những dải lụa uốn lượn trong khung mây hình khánh. Bên trong là hình chim phụng đang xòe cánh múa, chân co chân duỗi, đầu ngoảnh sau hướng về cụm mây nhỏ hình lưỡi mác ở góc trên. Cổ cong hình chữ S đeo sợi dây lụa buộc cuốn thư. Khung bên dưới có chữ: Khôn Nguyên Từ

  Mặt sau: cũng trang trí khung hình như mặt trước, bên trong đúc nổi tích “Long mã hà đồ”. Long mã có dáng như đang chạy trên mặt nước, đầu ngoảnh sau, lông bờm dựng, miệng há, mắt lồi, râu uốn cong lên trên. Toàn thân phủ vẩy, chân móng guốc, ngang thân phủ một tấm vải bên trên lưng buộc cuốn sách bằng dải lụa uốn lượn. Phía sau là đuôi cong ngược lên có dải lông dài như đuôi cờ. Khung bên dưới có chữ: Vân Chàng

  Mặt 2 bên mô típ trang trí như nhau nhưng 4 khung diềm để trống. Giữa trang trí hình rùa đang nằm trong một bụi sen có nhiều hoa và lá. Đầu cũng ngoảnh ra sau, chếch lên, miệng ngậm một nụ sen. Khung bên dưới có chữ: Mạnh Thu Tạo (bên trái) và Nhâm Niên (bên phải)

- Dưới thân của lư hương là phần đế choãi bốn chân dạng chân quì, đầu mũi cong lên như mũi hài có đường gờ nhỏ nổi viền quanh. Tiếp giáp với phần thân (ghi lạc khoản) là diềm trang trí cánh sen ngửa, tỏa ra từ giữa mỗi cạnh. Chính giữa chân đế (mặt trước và sau) đúc nổi hình đối long, hai chân trước khuỳnh dang rộng, lỗ mũi hẹp, mắt lồi, miệng ngậm chữ Thọ - (long hàm thọ), lông mày và bờm dựng ngược… Mặt 2 bên trang trí: Cành đào gồm lá, hoa, trái (bên trái), cành lựu gồm lá, hoa, trái (bên phải). Góc cạnh của bốn chân trang trí mặt hổ phù.

Chữ Hán:      

Phiên âm: Khôn Nguyên Từ, Vân Chàng Xã, Mạnh Thu Tạo, Nhâm Tý Niên

Dịch nghĩa: Đền Khôn Nguyên xã Vân Chàng, làm vào đầu mùa thu, tháng 7 năm Nhâm Tý

Như vậy, dựa vào kích thước khá lớn và dòng lạc khoản trên lư, chúng tôi xác định đây là một hiện vật rất quý của một ngôi đình hay đền thờ tên là Khôn Nguyên có niên đại chính xác là năm 1912 (vì trong các năm Nhâm Tý thì 1852 trở về trước rồng 5 móng chỉ dành cho vua chúa, còn từ 1972 về sau qua các tài liệu nghiên cứu về kỹ thuật đúc đồng thì không thấy nét tương đồng).

Về địa danh xã Vân Chàng, theo cuốn sách “Sổ tay địa danh Việt Nam” của Đinh Xuân Vịnh có ghi: “làng Vân Chàng thuộc tổng Minh Lương, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, nay là huyện Can Lộc (đổi tên năm 1853 về đời Tự Đức). Nhân dân làm nghề thợ rèn, trước là làng Hoa Chàng, sau vì kỵ húy tên bà Hồ Thị Hoa nên đổi là Vân Chàng. Có lẽ dân làng này đi khắp nơi làm nghề rèn đã di cư ra Bắc và lập nên làng Vân Chàng ở tỉnh Nam Định” và “cách thành phố Nam Định 19km về phía Đông Nam”, như vậy theo niên đại ghi trên lư thì địa danh Vân Chàng thuộc tỉnh Nam Định ngày nay.

Lư được đúc nguyên khối, chế tác bằng kỹ thuật truyền thống tuân theo trình tự các bước: làm khuôn, tạo mẫu, nung mẫu khuôn, rót vào khuôn và để nguội. Trong đó, kỹ thuật làm khuôn là quan trọng nhất quyết định sự thành công trong quá trình đúc đồng, vì vậy mà sau khi xem xét kỹ hiện vật chúng tôi không hề thấy dấu vết hàn ráp các bộ phận. Ngoài ra, nghệ thuật trang trí hoa văn bằng kỹ thuật đúc nổi, đúc chìm được thực hiện ngay trên mẫu khuôn đúc rất tinh tế và chi tiết, cách bố cục các họa tiết hài hòa, được thể hiện bằng thủ pháp kết hợp trang trí đề tài và chi tiết chạm khắc đạt đến trình độ tinh xảo.

Nhìn chung, chiếc lư này trang trí thể hiện đề tài tứ linh, nhất là hình tượng rồng có các tư thế: Lưỡng long triều nhật, giáng long, long hàm thọ…, đặc biệt đuôi rồng xoắn tròn thể hiện đặc trưng hình tượng rồng thời Nguyễn so với rồng triều đại trước và rồng Trung Quốc. Xen kẽ các mô típ hoa văn truyền thống khác: Hoa sen, cổ đồ, hồi văn nửa chữ công, chữ vạn…

Đây là một loại đồ thờ cúng có kích thước lớn, lư hương là vật dụng không thể thiếu trong bộ Tam sự hoặc Ngũ sự trên bàn thờ đình chùa đền miếu và cả trong bàn thờ gia tiên. Ngoài chức năng dùng trong nghi lễ, lư còn có tính chất trang trí nên mỗi chiếc lư có thể coi là một sản phẩm độc đáo từ nghệ thuật đúc đồng của người Việt.

 

 

Tài liệu tham khảo:

Đặng Văn Thắng, Hoàng Anh Tuấn: Đôi nét về văn hóa nghệ thuật Nguyễn, Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn, NXB KH Hà Nội, Tập 1, 1992.

-  Đinh Xuân Vịnh: Sổ tay địa danh Việt Nam, NXB Lao Động, 1996

-  Gian nan khôi phục nghề đúc đồng Ngũ Xã: “http://dantri.com.vn/c20/s20-396054/gian-nan-khoi-phuc-nghe-duc-dong-ngu-xa.htm”

-   Làng đúc đồng Đại Bái: “http://www.bacninh.gov.vn/Story/VanHoaDuLich/LangNgheTruyenThong/2005/6/479.html”

-  Nghề đúc đồng ở Sài Gòn xưa: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn4nnn2n31n343tq83a3q3m3237nvntn&AspxAutoDetectCookieSupport=1

-  Phạm Hữu Công: Nghề đúc lư hương ở Tân Hòa Đông (Tp.HCM), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1992.

-  Tạp chí Xưa và Nay: Nam bộ xưa và nay, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1998