Loạn Luân|Hiếp Dâm|Phá trinh|Việt Sub|phim sex


Đăng kí nhận thông báo
Thống kê
Đang Online: 14
Truy cập hôm nay: 102014
Tổng số truy cập: 4428141
 
Yahoo Messenger

donhuminhkhoa
 
Đặt quảng cáo

 

VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)

2012-06-13 06:32:08

* Văn hóa Đồng Nai: Sau thời đại đá, khu vực Nam Bộ chuyển qua thời đại kim khí với Văn hóa Đồng Nai trong đó nông nghiệp và các nghề làm gốm, đúc đồng, rèn sắt, chế tạo đồ trang sức có bước tiến mạnh mẽ.

Hàng trăm di tích khảo cổ học phát hiện ở lưu vực sông Đồng Nai cho thấy có một trung tâm văn hóa thời kim khí phát triển mà sớm nhất là giai đoạn Cầu Sắt (Đồng Nai) khoảng 4.000 năm cách ngày nay, tiếp theo là giai đoạn Bến Đò (TP. HCM), Phú Hòa (Đồng Nai), Rạch Núi (Long An) cách ngày nay khoảng 3.000 năm, rồi giai đoạn Cù Lao Rùa và giai đoạn Dốc Chùa, Giồng Cá Vồ (Tp.HCM) muộn hơn.

Di vật văn hóa Đồng Nai rất phong phú gồm: đồ đá có khối lượng lớn với các loại rìu, bàn mài, đục, mai, cuốc, dao hái, đàn đá… đồ gốm cũng có số lượng đáng kể với các loại hình vò, nồi, bình, bát… đặc biệt là các vò dùng làm quan tài chôn người chết; đồ đồng số lượng khiêm tốn nhưng lại đa dạng hơn khu vực Sa Huỳnh với các loại công cụ và vũ khí: rìu, giáo, qua, cạnh đó là khuôn đúc đồng; đồ sắt chủ yếu là công cụ và vũ khí như cuốc, rìu, dao, liềm, kiếm… đồ thủy tinh và các loại trang sức vàng, bạc, mạ vàng cũng được tìm thấy trong các di chỉ mộ táng sơ kỳ sắt.

      Văn hóa Đồng Nai thời kim khí được xem là tiền đề phát triển của văn hóa Óc Eo thuộc vương quốc Phù Nam.

 - Hiện vật Văn hóa Phú Hòa - Đồng Nai (khoảng 3.000 năm cách ngày nay) có các loại đồ đựng bằng đất nung, đồ trang sức: các loại khuyên tai, vòng tay, hạt chuỗi bằng đá mã não, thủy tinh, xương… tương tự Văn hóa Sa hùynh, đặc biệt công cụ sản xuất bằng đá như dao, cuốc, rìu có hình dạng cân đối được tu chỉnh mài bóng.

 

Qua đúc bằng đồng là loại vũ khí được phát hiện rất nhiều ở Long Giao (Đồng Nai) và trong lòng sông Đồng Nai.

Qua là một loại vũ khí thời cổ, hình dạng dài và dẹp với lưỡi dài hơi cong có mũi nhọn, hai cạnh lưỡi sắc, giữa lưỡi hơi nhô lên tạo thành sống qua, đoạn cuối qua chia thành 2 nhánh: 1 nhánh tiếp tục chạy ra sau tạo thành đuôi cá có 2 mang, khi tra cán đuôi cá xuyên qua cán và 2 mang ôm chặt cán, nhánh thứ 2 bẻ gấp xuống, trên nhánh này ở phía trước, lưỡi qua tiếp tục lượn thành một cung tròn với cạnh sắc phía trước còn phía sau tạo thành góc vuông trổ thủng các khe dài và hẹp gần rìa để luồn dây buộc vào cán. Qua xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào cuối thời Ân – Thương (1766 TR. CN - 1122 TR. CN) và là vũ khí khá tiện dụng dùng cho kỵ binh. Chiếc qua trên còn nguyên vẹn là vì được ngâm dưới bùn sình yếm khí sông Đồng Nai nên đã hình thành một lớp rỉ áo bảo vệ có màu xanh nâu của phèn và rỉ đồng.

 - Di tích Giồng Cá Vồ - Cần Giờ - TPHCM (khoảng 2.500 năm cnn) là khu di tích mộ táng với hiện vật là các loại chum, vò đất nung được dùng làm quan tài, các loại đồ trang sức: vòng bằng vỏ nhuyễn thể, vòng tay mã não, khuyên tai và các loại hạt chuỗi thủy tinh, mã não, vũ khí bằng sắt...

Hộp sọ nam khoảng 30 - 40 tuổi với đầy đủ răng hàm dưới, hàm trên, phía mang tai còn dính một vật đeo hai đầu thú bằng ngọc thạch. Vật đeo nằm đúng vị trí tai của di cốt người trong một chiếc vò đã chứng minh đây chính là một chiếc khuyên tai, bác bỏ những ý kiến cho rằng nó chỉ là một vật đeo trước ngực. Khuyên tai trên hộp sọ nam cũng chứng tỏ rằng tại Cần Giờ 2.500 năm trước, đồ trang sức được sử dụng khá rộng rãi.

* Vương quốc Phù Nam và Văn hóa Óc Eo:

Sang đầu công nguyên, xã hội Nam bộ cổ đã hình thành nhà nước: cư dân bản địa kết hợp với người Ấn Độ lập nên vương quốc Phù Nam (TK I - TK VII): một quốc gia phát triển rực rỡ, một nền văn hóa lớn ở Đông Nam Á vào thời cổ đại mà di tích Óc Eo (Thoại Sơn - An Giang) - một mảnh vỡ còn lại là minh chứng đầy thuyết phục.

 Lịch sử Phù Nam có thể chia thành những giai đoạn chính như sau:

- Giai đoạn hình thành (TK I - TK III): từ khi Diệp Liễu (người bản địa,nữ chúa Phù Nam) lấy Hỗn Điền (người Ấn Độ) đến thời vua Hỗn Bàn Bàn.

- Giai đọan phát triển thành “đế quốc Phù Nam” (TK III - TKVI) từ thời vua Phạm Sư Man (225 - 230) đến Rudravarman.

- Giai đoạn suy vong (TK VI - VII): Phù Nam bị Chân Lạp xâm chiếm.

Cho đến nay, hàng trăm di tích, hàng vạn di vật gồm nhiều chất liệu thuộc vương quốc Phù Nam đã được phát hiện ở khắp các tỉnh Nam bộ từ An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Trà Vinh, Tiền Giang, Long An, Tp. HCM cho đến Đồng Nai… trong đó nhiều di tích, di vật mang phong cách Bà la môn giáo, Phật giáo hoặc có xuất xứ từ Ấn Độ, Trung Quốc, La Mã, Ba Tư… Điều đó chứng tỏ cư dân Phù Nam là một cộng đồng đa dân tộc khá đông đảo, chịu ảnh hưởng tôn giáo Ấn Độ, sở hữu một vùng đất rộng lớn, có thể bao gồm Campuchia, một phần Lào, Thái Lan, bán đảo Malaya và Nam bộ Việt Nam hiện nay, họ đã có một nền kinh tế nhiều ngành nghề như làm ruộng, làm gốm, đúc đồng, rèn sắt, nấu thiếc, chạm khắc gỗ, xây dựng, chế tác nữ trang bằng vàng bạc, đá quý...Họ cũng có cảng thị buôn bán quốc tế với Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á và Địa Trung Hải, có chữ viết và một đời sống tôn giáo, tinh thần phong phú. Thư tịch cổ Trung Quốc ghi chép khá nhiều về lịch sử, văn hóa Phù Nam, trong đó cho biết: “…người nước đó da đen, bới tóc, đi chân đất…” “…người bản xứ thích chọi gà, đấu lợn, dùng vàng, châu ngọc, hương liệu để nộp thuế…” “… vua (Phù Nam) khi đi lại đều cỡi voi, các cung tần thị nữ cũng như vậy. Khi vua ngồi ngự thì co gối một bên, thõng gối một bên xuống đất…” [52, tr.133]. Văn bia bằng chữ Sanskrit của Phù Nam tìm thấy tại Đồng Tháp Mười, gọi là bia Gunavarman ghi lại sự hiện hữu của dòng Kaundinya trùng hợp với sử liệu Trung Quốc gọi ông này là Kiều Trần Như (người Ấn Độ) làm vua ở Phù Nam vào đầu TK V.

Tượng Phật – Gỗ sao:

Phật đứng trên đài sen, dáng thanh mảnh, đỉnh đầu có unisa, tóc xoắn ốc, mặc áo choàng hở vai, tay trái nắm mép áo, tay phải trong tư thế ban phúc.

Phật giáo có vai trò quan trọng tại Phù Nam. Thư tịch cổ Trung Quốc cho biết khá nhiều thông tin về Phật giáo Phù Nam như: những năm 484, 503, 519… các vua Phù Nam phái các nhà sư Ấn Độ hoặc sư Phù Nam mang cống phẩm và tượng Phật đi sứ Trung Quốc...

Tượng Phật đứng bằng gỗ là một đặc trưng của Phù Nam, cho đến nay đã tìm thấy khá nhiều các pho tượng gỗ có phong cách như trên tại các tỉnh Nam bộ: An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Long An…nhưng đặc biệt là chưa tìm thấy các tượng gỗ nào thuộc Bàla môn giáo.

Nhẫn: bằng vàng 10, mặt nhẫn chạm tượng một con bò u lực lưỡng trong tư thế nằm phục, bốn chân gấp lại. Đây là hình tượng bò Nandin - vật cỡi của Shiva.

Tiền: bằng vàng,hình tròn dẹp. Mặt tiền dập nổi chân dung nhìn nghiêng một người phương Tây tóc quăn, râu quai nón, mũi cao, trên vòng cung  sau gáy chân dung có chữ La Mã cổ Marc Aurelle. Đây là tên vua La Mã làm vua từ năm 161 -180. Lưng tiền để trơn. Hiện vật này cũng có thể là một chiếc huy chương?

Gương: đúc bằng đồng,là một mặt tròn dẹp, lõm lòng chảo phía lưng, gương vừa có tay cầm vừa có núm treo, mặt gương còn nhẵn, lưng gương trang trí giật 2 cấp đơn giản: ngoài là núm tròn dẹp, trong là ô tròn nổi có văn hình nan hoa tỏa dần ra vành gương. Đây là loại gương sản xuất ở Trung Quốc.

Bình ấm: khá lớn, dung tích khoảng 2 lít, chế tác thủ công nhưng dáng cân đối, được nung ở nhiệt độ khá cao. Bình ấm có kiểu dáng đặc trưng không giống một loại ấm nào với miệng loe, không nắp, cổ ngắn hình trụ thắt; vòi ngắn, thẳng lắp ngang vai; vai nở thân thuôn về đáy, có chân đế. Chân đế có đường kính nhỏ nên tạo cảm giác bình ấm không được vững chãi.

 

 

* Thời kỳ Thủy Chân Lạp:

 Từ TK VII, Phù Nam bị Chân Lạp - một thuộc quốc của Phù Nam ở phía Tây - xâm chiếm. Thực tế cho thấy dù chiếm được Phù Nam nhưng người Chân Lạp không đủ nhân lực để kiểm soát một vùng đất quá rộng lớn, vì vậy dần dần hình thành hai khu vực: Lục Chân Lạp ở vùng đất cao phía Tây và Thủy Chân Lạp gồm phần đất thấp phía Đông trong đó có Nam bộ Việt Nam. Sau đó Chân Lạp lại tập trung vào việc xây dựng Angkor và xung đột với Champa nên hầu như chỉ quản lý được khu vực phía Tây. Còn cư dân tại phần phía Đông sống thưa thớt, hầu như không chịu sự ràng buộc của một thế lực chính quyền, họ tiếp tục phát huy truyền thống văn hóa cũ với ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ đồng thời có sự giao lưu với các nền văn hóa khác. Dấu vết của họ tại Nam bộ là các phế tích đền tháp bằng gạch, đá, ngẫu tượng Linga-Yoni, bia kỷ niệm, tượng thần, tượng Phật bằng đá, gỗ; đồ trang sức bằng thủy tinh, đá quý; đồ thờ cúng và đồ gia dụng bằng gốm …

Tượng thần Surya – Đá-TK VII: Theo truyền thuyết Ấn Độ, Surya là thần mặt trời.

Surya Thủy Chân Lạp thể hiện một nam nhân mặt tròn trong tư thế đứng, đầu đội mũ trụ nhiều cạnh, tai đeo khuyên, liền sau đầu là một vành tròn tượng trưng cho vầng thái dương. Tượng mặc áo cổ tròn, váy xòe dài tới đùi, đeo trang sức ở cổ tay, hai tay đưa ngang ngực mỗi tay cầm một nụ sen.  

Tượng thần Vishnu – Đá –Tk VII: Khác với Champa, trong tam vị nhất thể của Bà la môn, cư dân Thủy Chân Lạp lại chuyên thờ cúng Vishnu - thần Bảo tồn, ít chú ý đến Shiva và Brahma. Hình tượng Vishnu đứng, đội mũ trụ, mình trần, không có trang sức, thân dưới mặc dhoti [43, tr.241] hoặc sampot, có 4 tay cầm các vật đặc hữu như: cây chùy, vỏ ốc, tù và, quả cầu, được phát hiện tại Nam bộ nhiều hơn so với hình tượng Shiva và Brahma. Việc sùng bái Vishnu cho thấy đã hình thành hệ phái Vishnu giáo ở Thủy Chân Lạp.

Tượng thần Durga: Durga là một trong những người vợ của Shiva, được biết đến là nữ thần chiến thắng quỷ trâu. Durga được thể hiện là một nữ nhân đầu đội mũ trụ ở tư thế đứng trên bệ đầu trâu trong vòng cung đỡ, tượng có 4 tay, 2 tay sau đưa lên ngang vai cầm gương và con dao, 2 tay trước nắm lại chống xuống gậy trượng, có thể để cầm các vật biểu tượng rời. Thân trên ở trần để lộ bộ ngực  vun cao và vòng eo thon, thân dưới mặc váy dài vẽ hoa văn sóng sin lăn quăn liên tục

Mukhalinga: Linga là biểu hiện của Shiva, tuy nhiên để làm nổi rõ hơn biểu tượng này người ta còn chạm nổi trên vị trí mí thiêng ở chỏm cầu một khuôn mặt Shiva để tạo thành Mukhalinga. Mukhalinga được sáng tạo từ Ấn Độ và được du nhập vào Nam bộ sau thời Phù Nam. Mặt Shiva trên mí thiêng thể hiện rất đầy đủ các chi tiết mắt, mũi, miệng cân đối, tóc bới cao, mang khuyên tai. Mukhalinga là vật linh, thường được thờ trong điện trung tâm Bà la môn.

Khoảng TK XVI, các lưu dân khốn cùng chạy trốn ách áp bức ở Đàng Trong, Đàng Ngoài thuộc Đại Việt đã tìm vào vùng đất Nam bộ khai mở cuộc sống mới. Do đất rừng hoang vắng, họ tiến hành khẩn hoang mà hầu như không gặp sự phản đối của cư dân bản địa. Chẳng bao lâu sau do sự khai phá của người Việt, vùng Nam Bộ thuộc Thủy Chân Lạp đã trở thành nơi đông đảo dân cư có ruộng vườn tươi tốt. Năm 1679, những di thần nhà Minh (Trung Quốc) cũng được phép chúa Nguyễn đến Nam bộ cùng sinh sống, lập nghiệp. Đến năm 1698, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược Thủy Chân Lạp lập nên chính quyền của người Việt. Đất Nam Bộ chính thức trở thành một bộ phận Việt Nam.

Lịch sử, văn hóa cổ Nam Bộ từ thời kim khí đến TK XVII mang nhiều yếu tố độc đáo, có vị trí quan trọng trong kho tàng di sản Việt Nam.

VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn
VĂN HÓA ÓC EO (TỪ THỜI KIM KHÍ ĐẾN TK XVII)
Xem Ảnh lớn